Top 5 bản án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất khi không ký giáp ranh với chủ đất liền kề tham khảo

Top 5 bản án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất khi không ký giáp ranh với chủ đất liền kề tham khảo

 

MỤC LỤC BÀI VIẾT

 

 

 

Khi thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì hai bên thường căn cứ vào diện tích trên sổ đỏ. Trong trường hợp, sau một thời gian sử dụng đất, bạn xây nhà trên đất và bỗng vào ngày đẹp trời hàng xóm có yêu cầu bạn thay đổi kết cấu nhà vì đã lấn chiếm diện tích đất của họ. Một trong những lí do xảy ra tình trạng này là vì khi mua đất bạn đã không làm biên bản ký giáp ranh, giáp thửa với các chủ đất liền kề.

 

Theo quy định tại Khoản 11 Điều 7 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 như sau:

Điều 11a. Từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

1. Việc từ chối hồ sơ đề nghị đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau: 

a) Không thuộc thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ;

b) Hồ sơ không có đủ thành phần để thực hiện thủ tục theo quy định;

c) Nội dung kê khai của hồ sơ không đảm bảo tính đầy đủ, thống nhất và hợp lệ theo quy định của pháp luật;

d) Thông tin trong hồ sơ không phù hợp với thông tin được lưu giữ tại cơ quan đăng ký hoặc có giấy tờ giả mạo;

đ) Khi nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc Văn phòng Thừa phát lại yêu cầu tạm dừng hoặc dừng việc cấp Giấy chứng nhận đối với tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là đối tượng phải thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự hoặc văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án; khi nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai về việc đã tiếp nhận đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất;

e) Không đủ điều kiện thực hiện quyền theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan.

Theo đó, pháp luật không có quy định từ chối tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp sổ đỏ vì lý do hàng xóm không ký giáp ranh. Tuy nhiên, đây là cách phổ biến và dễ dàng để xác định có tranh chấp quyền sử dụng đất với các chủ đất liền kề hay không. Vì vậy, khi mua đất, tốt nhất mọi người nên làm biên bản để chủ đất liền kề ký vào và đóng cọc mốc ranh giới, như vây sẽ tránh được nhiều nhiều tranh chấp pháp lý không cần thiết sau này.

HẬU QUẢ CỦA VIỆC ĐI MUA ĐẤT MÀ KHÔNG ĐO ĐẠC LẠI THỬA ĐẤT VÀ KÝ GIÁP RANH - GIÁP THỬA VỚI CÁC CHỦ ĐẤT LIỀN KỀ

Dưới đây, là một số Bản án có nội dung về tranh chấp quyền sử dụng đất, ranh giới đất khi người có quyền sử dụng đất không làm biên bản ký giáp ranh, giáp thửa với chủ đất liền kề, mời các bạn tham khảo:

 

  1. Bản án 27/2020/DS-PT ngày 08/06/2020 về tranh chấp quyền sử dụng đất

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang

- Trích dẫn nội dung: “Ông Trịnh Công M kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm và cho rằng gia đình ông không mượn, không lấn chiếm đất của gia đình bà C, vì diện tích đất đó bỏ hoang cây cối rậm rạp mà lại nằm sát vị trí đất nhà ông nên đã khai phá để trồng Chuối từ năm 1975. Năm 2013 bà C có đến nhà yêu cầu gia đình ông ký giáp ranh để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng gia đình ông không đồng ý vì diện tích đất trên gia đình ông đã sử dụng để trồng hoa màu ổn định, liên tục từ năm 1975 không có tranh chấp với ai. Mặc dù gia đình ông không ký giáp ranh nhưng đến ngày 18/6/2014 UBND thành phố Q vẫn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C đối với diện tích đất trên là trái pháp luật. Mặc dù gia đình ông không có giấy tờ gì đối với diện tích đất đang có tranh chấp nhưng đã sử dụng ổn định, ngay tình, liên tục hơn 40 năm không có tranh chấp với ai nên có quyền sử dụng diện tích đất này”

 

  1. Bản án về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất số 83/2021/DS-PT

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang

- Trích dẫn nội dung: “Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông Nguyễn Văn D được cấp năm 1997, thì đối với thửa đất số 4, sau khi trừ đi diện tích đất mà ông D đã chuyển nhượng cho người khác và chuyển mục đích, thì đến 2018 khi ông D được cấp đổi giấy chứng nhận, diện tích đất đã tăng thêm 558m2. Lý do có việc này là khi cấp đổi lại giấy chứng nhận, ông D có mời cơ quan chuyên môn đo đạc, nhưng không có mời các hộ giáp ranh ký giáp ranh, nên việc cấp đổi giấy có sai sót về số liệu đối với diện tích đất của thửa đất số 4. Đối chiếu diện tích đất trong giấy chứng nhận được cấp với phần đất theo đo đạc thực tế của Tòa án thì diện tích đất của bà A và bà R đều bị thiếu, còn diện tích đất của ông D thì dư.”

 

  1. Bản án 55/2020/DS-PT ngày 22/05/2020 về tranh chấp quyền sử dụng đất, lối đi qua bất động sản liền kề, đòi bồi thường thiệt hại

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Trích dẫn nội dung: “Năm 1994, bà Nguyễn Thị O (là cô của bà Nguyễn Thị G) có chia đất cho các hộ trong dòng họ gồm hộ ông U, bà Y, bà X và bà G mỗi người một miếng đất. Phần đất bà G được cho có diện tích 100m2 thuộc thửa số 1635, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Phường 3, thành phố V, đã được UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R ngày 20/9/2000 cho bà Nguyễn Thị G, kèm theo là sơ đồ vị trí do Phòng Kinh tế Uỷ ban nhân dân thành phố V lập ngày 10/9/1994. Ranh giới đất giữa các hộ được chia trong dòng họ thể hiện trên bản vẽ sơ đồ mang tính chất liên hệ, không có trên thực địa. Thực tế các hộ được chia đất muốn xác định vị trí đất của mình đều phải dựa vào đường ranh giới giữa đất của bà O với đất của Tập đoàn. Theo đó, đất của bà G được xác định bắt đầu từ ranh giữa đất bà O và đất Tập đoàn là 32,5m, kết thúc là 42,2m. Ông Nguyễn Ngọc C khi mua phần đất của bà Nguyễn Thị V (là con của bà U) chỉ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có sơ đồ vị trí đất kèm theo. Sau này, ông C đo vẽ lại sơ đồ vị trí đất nhưng không lấy chữ ký giáp ranh giữa các hộ liền kề nên hậu quả là sai lệch vị trí đất sử dụng trên thực địa.”

 

  1. Bản án 49/2017/DS-ST ngày 19/10/2017 về tranh chấp quyền sử dụng đất

- Cấp xét xử: Sơ thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An

- Trích dẫn nội dung: “Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tiến hành đo đạc thực tế các thửa đất mà căn cứ trên cơ sở trích lục bản đồ địa chính, không ký giáp ranh giữa các chủ sử dụng đất, hơn nữa hai thửa đất này đều giáp với rạch nên có sự chênh lệch giữa diện tích ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đo đạc thực tế. Do đó, không thể căn cứ vào diện tích đo đạc thực tế đủ, thiếu so với diện tích ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xác định có việc sử dụng lấn ranh sang phần đất của chủ sử dụng khác hay không.”

  1. Bản án 52/2019/DS-PT ngày 15/05/2019 về tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời tài sản trên đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Cấp xét xử: Phúc thẩm

- Cơ quan xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội

- Trích dẫn nội dung: “Đến năm 2013, khi anh Đ xây tường rào bao quanh nhà chồng lên tường rào bà Tạ Thị M xây năm 2002 (nhưng vẫn để một lối đi rộng 0lm cho bà Tạ Thị M đi lại), thì bà M sang yêu cầu trả lại đất với lý do gia đình bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi đó anh Đ gọi ông lên nói chuyện với bà M, hai bên gia đình đã thống nhất không tranh chấp nữa và thống nhất thỏa thuận mở cho gia đình bà M đi lại. Năm 2015, bà M lại cố tình kiện ông từ thôn đến Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban nhân dân huyện và giờ lại kiện anh Đ ra Tòa án nên anh Đ mới xây bịt lối đi lại. Phần đất còn lại của gia đình ông vẫn là đất ruộng, chỉ chuyển đổi từ sổ cũ sang sổ mới. Khi chuyển đổi sổ, ông không được đi kê khai mà do cán bộ xã làm nên ông không biết là không có diện tích đất bà M đang tranh chấp. Khi bà M đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không báo cho gia đình ông biết, gia đình ông cũng không được ký giáp ranh các hộ liền kề.”

(Theo Như Ý - Thư viện Pháp luật)

Quy trình mua bán chuyển nhượng căn hộ, nhà phố, đất đai đã có sổ đỏ.


TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 27/2020/DS-PT NGÀY 08/06/2020 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong các ngày 02 và 08 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2020/TLPT- DS, ngày 13 tháng 4 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DS - ST, ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Q bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 29/2020/QĐ-PT, ngày 18 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Tổ 6 (tổ 10 cũ), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Trịnh Công M, sinh năm 1955.

2.2. Bà Phạm Thị Tường V, sinh năm 1960.

Cùng địa chỉ: Tổ 6 (tổ 10 cũ), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Đều có mặt tại phiên tòa.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1936.

Địa chỉ: Tổ 6 (tổ 10 cũ), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Đã chết ngày 18/02/2020.

Nhng người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Thanh S:

3.1.1. Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1954.

3.1.2. Bà Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1967.

3.1.3. Bà Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1973.

3.1.4. Ông Nguyễn Quang Th1, sinh năm 1975. Cùng địa chỉ: Tổ 6 (tổ 10 cũ), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang.

3.1.5. Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Phường G, thành phố X, tỉnh Hà Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Thanh S: Bà Nguyễn Thị Minh C (là nguyên đơn trong vụ án).

3.2. UBND thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang.

Địa chỉ: Thôn 9, phường An Tường, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Tô Hoàng L; chức vụ: Chủ tịch.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đình F; chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Q. Theo giấy ủy quyền ngày 29/5/2020. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Trịnh Công M.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và lời khai tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh C trình bày:

Bố mẹ bà là ông Nguyễn Thanh S và bà Phạm Thị Ng1 (bà Ng1 chết năm 1992) có khai phá được một diện tích đất khoảng 163m2 đất trồng cây lâu năm, đã kê khai và có tên trên bản đồ địa chính năm 1997 và hồ sơ kỹ thuật thửa đất thể hiện tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất xóm 10 (nay là tổ 06), phường N, thành phố Q mang tên ông Nguyễn Thanh S. Năm 1986, bố ông Trịnh Công M là ông Trịnh Văn B có mượn ông S một phần diện tích đất này vào khoảng 40m2 để sử dụng. Sau khi vợ chồng ông B, bà K chết thì ông Trịnh Công M và bà Phạm Thị Tường V là con trai và con dâu của ông T, bà K tiếp tục sử dụng diện tích đất này cho đến nay. Hàng năm, ông S vẫn thực hiện đóng thuế đầy đủ với Nhà nước. Đến năm 2004, ông Nguyễn Thanh S viết giấy tặng cho bà diện tích đất trên, năm 2013 bà làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cán bộ địa chính đến đo đạc xác định ranh giới đất mời vợ chồng ông M đến tham gia, nhưng gia đình ông M không tham gia, khi xác định ranh giới đất xong, cán bộ địa chính phường đưa biên bản để cho các hộ giáp ranh ký, bà đến nhà ông M và bà V khoảng 2 đến 3 lần nhưng gia đình ông M không ký. Sau khi làm đầy đủ thủ tục đến ngày 18/6/2014 bà được UBND thành phố Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 155,3m2 đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 10. Bà đã nhiều lần yêu cầu ông M, bà V trả lại diện tích đất trên cho bà nhưng ông M, bà V không trả vì cho rằng diện tích đất này là của ông M, bà V. Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông M, bà V trả lại cho bà diện tích 39,3m2 đất (theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án) tại thửa đất số 78, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất tại tổ 10 (nay là tổ 06), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang.

Bị đơn ông Trịnh Công M và bà Phạm Thị Tường V trình bày:

Nguồn gốc diện tích đất khoảng 40m2 đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị Minh C là do bố mẹ ông M khai phá từ trước năm 1975, hàng năm gia đình ông bà sử dụng để trồng chuối. Sau khi bố mẹ ông M chết, ông M và bà V tiếp tục sử dụng ổn định đến nay. Quá trình sử dụng đất gia đình ông bà chưa kê khai đăng ký với cơ quan có thẩm quyền và không có giấy tờ gì về quyền sử dụng đất, ông bà không đóng thuế sử dụng đất vì Nhà nước không thông báo, sau này Nhà nước miễn thuế, đến nay diện tích đất này gia đình ông bà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng năm 2014, bà C có đến gia đình ông bà 2 đến 3 lần đề nghị ông bà ký giáp ranh để bà C làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên và yêu cầu gia đình ông bà trả lại diện tích đất này nhưng ông bà không nhất trí. Nay bà C khởi kiện yêu cầu ông bà trả lại 39,3m2 đất ông bà không đồng ý, vì ông bà không mượn đất của ông Nguyễn Thanh S, đất trên do gia đình ông bà khai phá và đã sử dụng ổn định được hơn 40 năm ngay tình, nên theo Điều 247 Bộ luật dân sự đất này là của ông bà. Ông bà đề nghị Toà án huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà C vì diện tích đất đang tranh chấp gia đình ông bà đang sử dụng, khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C không có chữ ký giáp ranh của gia đình ông bà và việc lấy ý kiến khu dân cư lúc nào ông bà không được biết.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh S trình bày tại cấp sơ thẩm:

Diện tích đất ông tặng cho con gái ông là Nguyễn Thị Minh C có nguồn gốc do ông khai phá cùng bố mẹ ông là Nguyễn Văn Tr và Cao Thị H1 (đều đã chết) từ khoảng năm 1950 đến 1955. Toàn bộ diện tích đất này ông sử dụng và đã kê khai đăng ký và có tên trên bản đồ địa chính năm 1997. Năm 1986, bố đẻ ông Trịnh Công M là ông Trịnh Văn B có hỏi mượn ông một phần diện tích vào khoảng 40m2, việc cho mượn chỉ bằng miệng không làm giấy tờ gì. Sau khi mượn ông B đã sử dụng diện tích đất làm chuồng lợn và trồng chuối, sau khi vợ chồng ông B, bà Phạm Thị C1 chết, ông vẫn để cho ông M và bà V sử dụng. Năm 2004 ông viết giấy tặng cho con gái là bà Nguyễn Thị Minh C. Năm 2013, bà C đã yêu cầu ông M, bà V trả lại đất để bà C làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông M, bà V không trả. Năm 2014, bà C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay bà C khởi kiện yêu cầu ông M, bà V trả lại diện tích 39,3m2 cho bà C ông hoàn toàn nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà C.

* Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thành phố Q - Ông Nguyễn Xuân Nh trình bày tại cấp sơ thẩm:

Hồ sơ, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Minh C là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Theo quy định, khi thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C không xin ý kiến trực tiếp của hộ giáp ranh liền kề thì UBND phường N phải thực hiện việc thông báo cho người sử dụng đất liền kề biết về sơ đồ thửa đất đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu đồng ý hoặc quá thời gian thông báo, người sử dụng đất liền kề không có ý kiến gì thì lập thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp nếu chưa thống nhất thì phải thực hiện giải quyết tranh chấp, sau khi thực hiện xong mới giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông Trịnh Công M và bà Phạm Thị Tường V đề nghị Tòa án xem xét hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số BQ 723690, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 001571 do UBND thành phố Q cấp ngày 18/6/2014 đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất tại tổ 6 (tổ 10 cũ), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang mang tên chủ sử dụng bà Nguyễn Thị Minh C, UBND thành phố đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Vụ kiện trên đã được Toà án nhân dân thành phố Q thụ lý, hoà giải nhưng không thành và đã đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DS – ST, ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã quyết định:

Căn cứ các Điều 26, 147, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 100, Điều 166 và Điều 203 Luật đất đai; Pháp lệnh án phí lệ phí Toà án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Minh C.

- Buộc ông Trịnh Công M và bà Phạm Thị Tường V trả cho bà Nguyễn Thị Minh C diện tích đất 39,3m2 tại thửa số 78, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất tại tổ 6 (tổ 10 cũ), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Được giới hạn bởi các điểm E,F,A,B,D,E. Trong đó, điểm E-F = 4,5m, điểm F-A = 5m, điểm A-B = 5m, điểm B-D = 7,8m, điểm D-E = 5,5m (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

- Bà Nguyễn Thị Minh C có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản trên đất là 433.000đ (Bốn trăm ba mươi ba nghìn đồng) cho ông Trịnh Công M và bà Phạm Thị Tường V và được sử dụng tài sản hoa màu trên đất là 36 cây chuối.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trịnh Công M và bà Phạm Thị Tường V về việc yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Minh C (số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 001571 cấp ngày 18/6/2014).

3. Về án phí:

- Bà Phạm Thị Tường V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

- Ông Trịnh Công M được miễn phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

- Bà Nguyễn Thị Minh C không phải chịu án phí. Trả lại cho bà C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 125.000đ (Một trăm hai mươi năm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0000916 ngày 24/02/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/11/2019 Tòa án nhận được đơn kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Công M kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DS – ST, ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Q với lý do:

Việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc gia đình bị đơn trả cho bà Nguyễn Thị Minh C 39,3m2 đất tranh chấp căn cứ vào lời trình bày của ông Nguyễn Thanh S (bố bà C) về việc bố đẻ bị đơn là ông Trịnh Văn B hỏi mượn một phần đất có diện tích 40m2 để sử dụng là không có căn cứ. Vì gia đình ông thấy diện tích đất đó bỏ hoang, cây cối rậm rạp mà lại ở vị trí sát cạnh nhà mình do đó đã khai phá, cải tạo đất và sử dụng trồng Chuối để chăn nuôi ổn định, liên tục, công khai minh bạch từ năm 1975 đến nay không có tranh chấp với ai, khi đó bà C mới được 02 tuổi. Cho đến khoảng năm 2013 khi bà C đến nhà ông và yêu cầu ông ký giáp ranh để bà C làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất mà gia đình ông trồng Chuối nhưng gia đình ông không ký vì diện tích đất đó do gia đình ông khai phá để trồng Chuối nhưng bị bà C tranh chấp. Đến ngày 18/6/2014 bà C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên diện tích đất mà gia đình ông đang trồng Chuối. Trong thời gian trước thời điểm bà C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông không thấy ai thông báo là làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C và niêm yết, thông báo ở nhà văn hóa tổ 6 (tổ 10 cũ). Vợ ông hàng tháng đều đi họp ở nhà văn hóa không thấy Tổ trưởng thông báo niêm yết thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà C và bất cứ hộ gia đình nào thêm nữa. Do đó, việc cán bộ địa chính phường N và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C trên diện tích đất mà gia đình ông khai phá trồng Chuối làm hoàn toàn sai phạm luật. Khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Người chiếm hữu, người được hưởng lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu”, căn cứ quy định trên thì diện tích đất do gia đình ông khai phá trồng Chuối đương nhiên thuộc quyền sở hữu của gia đình ông chứ không phải của gia đình bà C. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 247 Bộ luật Dân sự năm 2005 công nhận gia đình ông có quyền chiếm hữu, sử dụng 39,3m2 đất đang có tranh chấp và hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà C trái quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Trịnh Công M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nhất trí với bản án sơ thẩm.

Qua phần thủ tục hỏi tại phiên tòa các đương sự thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm. kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo các thủ tục về phiên tòa phúc thẩm, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71,72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của ông Trịnh Công M là hợp lệ trong hạn luật định. Nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án sơ thẩm.

Về nội dung: Tại phiên tòa, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và việc thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Công M, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố Q theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trịnh Công M trong thời hạn luật định, do ông Minh là người cao tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm có quyết định miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông M. Do đó đơn kháng cáo của ông Minh là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Sau khi xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh S chết. Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Sơn là bà Nguyễn Thị Ng, bà Nguyễn Thị Thanh Th, bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Minh C, ông Nguyễn Quang Th1 (những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất) đã thống nhất cử bà Nguyễn Thị Minh C là người đại diện cho những người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Sơn tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm là đảm bảo đúng về trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn:

Bị đơn ông Trịnh Công M kháng cáo không nhất trí với bản án sơ thẩm và cho rằng gia đình ông không mượn, không lấn chiếm đất của gia đình bà C, vì diện tích đất đó bỏ hoang cây cối rậm rạp mà lại nằm sát vị trí đất nhà ông nên đã khai phá để trồng Chuối từ năm 1975. Năm 2013 bà C có đến nhà yêu cầu gia đình ông ký giáp ranh để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng gia đình ông không đồng ý vì diện tích đất trên gia đình ông đã sử dụng để trồng hoa màu ổn định, liên tục từ năm 1975 không có tranh chấp với ai. Mặc dù gia đình ông không ký giáp ranh nhưng đến ngày 18/6/2014 UBND thành phố Q vẫn cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C đối với diện tích đất trên là trái pháp luật. Mặc dù gia đình ông không có giấy tờ gì đối với diện tích đất đang có tranh chấp nhưng đã sử dụng ổn định, ngay tình, liên tục hơn 40 năm không có tranh chấp với ai nên có quyền sử dụng diện tích đất này theo quy định tại khoản 1 Điều 247 Bộ luật dân sự năm 2005. Do đó việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc vợ chồng ông phải trả cho bà C 39,3m2 đất đang có tranh chấp là không có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh C, bị đơn ông Trịnh Công M, bà Phạm Thị Tường V tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án như sau:

- Ông Trịnh Công M, bà Phạm Thị Tường V được quyền sử dụng diện tích đất 39,3m2 đất trồng cây lâu năm nằm trong thửa đất số tại thửa số 78, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất tại tổ 6 (tổ 10 cũ), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang đã được UBND thành phố Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ723690, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 001571 cấp ngày 18/6/2014 mang tên chủ sử dụng bà Nguyễn Thị Minh C, đất được giới hạn bởi các điểm E, F, A, B, D, E. Trong đó, điểm E-F = 4,5m, điểm F-A = 5m, điểm A- B = 5m, điểm B-D = 7,8m, điểm D-E = 5,5m (có sơ đồ bản vẽ kèm theo) và được quyền sở hữu toàn bộ cây trồng trên diện tích đất 39,3m2. Ông Trịnh Công M, bà Phạm Thị Tường V có nghĩa vụ kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích 39,3m2 đất trồng cây lâu năm tại cấp có thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai.

- Bà Nguyễn Thị Minh C có nghĩa vụ thực hiện kê khai, đăng ký điều chỉnh biến động (giảm 39,3m2 đất trồng cây lâu năm) đối với thửa đất 78, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất tại tổ 6 (tổ 10 cũ), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang đã được UBND thành phố Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 723690, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 001571 cấp ngày 18/6/2014 mang tên chủ sử dụng bà Nguyễn Thị Minh C.

Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 500.000đ, chi phí định giá tài sản là 1.100.000đ. Tổng cộng chi phí tố tụng là 1.600.000đ bà Nguyễn Thị Minh C tự nguyện nhận chịu và đã nộp đủ.

Bà Nguyễn Thị Minh C tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Xét thấy, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và việc thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử công nhận. Đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, do đó, chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trịnh Công M sửa bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DS – ST, ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Q, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm nên đương sự kháng cáo ông Trịnh Công M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên do ông M là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí phúc thẩm.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 300; khoản 2 Điều 308; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 95; Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trịnh Công M. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 118/2019/DS – ST, ngày 15/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Q. Công nhận sự thỏa thuận giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh C với bị đơn ông Trịnh Công M, bà Phạm Thị Tường V như sau:

- Ông Trịnh Công M, bà Phạm Thị Tường V được quyền sử dụng diện tích đất 39,3m2 đất trồng cây lâu năm nằm trong thửa đất số tại thửa số 78, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất tại tổ 6 (tổ 10 cũ), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang đã được UBND thành phố Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 723690, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 001571 cấp ngày 18/6/2014 mang tên chủ sử dụng bà Nguyễn Thị Minh C, đất được giới hạn bởi các điểm E, F, A, B, D, E. Trong đó, điểm E-F = 4,5m, điểm F-A = 5m, điểm A-B = 5m, điểm B-D = 7,8m, điểm D-E = 5,5m (có sơ đồ bản vẽ kèm theo) và được sở hữu toàn bộ cây trồng trên diện tích đất 39,3m2. Ông Trịnh Công M, bà Phạm Thị Tường V có nghĩa vụ kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đối với diện tích 39,3m2 đất trồng cây lâu năm tại cấp có thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai.

- Bà Nguyễn Thị Minh C có nghĩa vụ kê khai chỉnh lý biến động (giảm 39,3m2 đất trồng cây lâu năm) đối với thửa đất 78, tờ bản đồ số 10, địa chỉ thửa đất tại tổ 6 (tổ 10 cũ), phường N, thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang đã được UBND thành phố Q cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ723690, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CH 001571 cấp ngày 18/6/2014 mang tên chủ sử dụng bà Nguyễn Thị Minh C.

Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Minh C tự nguyện nhận chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 1.600.000đ, trong đó chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 500.000đ, chi phí định giá tài sản là 1.100.000đ. Bà C đã nộp đủ số tiền trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Minh C tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 125.000đ (Một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000916 ngày 24 tháng 02 năm 2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q, tỉnh Tuyên Quang. Bà Nguyễn Thị Minh C còn phải nộp tiếp 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trịnh Công M phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 08/6/2020).


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 83/2021/DS-PT NGÀY 21/05/2021 VỀ TRANH CHẤP RANH GIỚI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong các ngày 18 tháng 5 năm 2021 và ngày 21 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 103/2020/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 79/2020/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2021/QĐ-PT ngày 01 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2021/QĐ-PT ngày 26 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Vũ A.

Địa chỉ: khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Vũ Thị M (văn bản ủy quyền ngày 20/12/2019).

Địa chỉ: khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D.

Địa chỉ: khu vực 4, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Văn H (văn bản ủy quyền ngày 07/01/2020).

Địa chỉ: khu vực 4, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

Ngưi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trương Vương Q là luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Thy-HG thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hậu Giang.

Địa chỉ: khu vực 3, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn H.

Địa chỉ: khu vực 4, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Ông Nguyễn Văn T.

Địa chỉ: khu vực 4, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Bà Nguyễn Thị Ngọc Th.

Địa chỉ: khu vực 4, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Bà Võ Thị N.

Địa chỉ: khu vực 4, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Bà Nguyễn Thị Ngọc H.

Địa chỉ: ấp Hòa M, xã Hòa A, thành phố C, tỉnh Đ.

Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Ngọc Th, bà Võ Thị N, bà Nguyễn Thị Ngọc H: Ông Nguyễn Văn H (văn bản ủy quyền ngày 31/12/2019, ngày 06/01/2020 và ngày 07/01/2020).

Địa chỉ: khu vực 4, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt. Ông Huỳnh Minh H.

Địa chỉ: khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện theo ủy quyền của ông Huỳnh Minh H: Bà Vũ Thị M (văn bản ủy quyền ngày 20/12/2019).

Địa chỉ: khu vực 4, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt. Bà Trương Thị R.

Địa chỉ: khu vực 6, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

Ông Trương Hữu Tr.

Địa chỉ: khu vực 6, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện theo ủy quyền của ông Trương Hữu Tr: Bà Trương Thị R (văn bản ủy quyền ngày 19/5/2020).

Địa chỉ: khu vực 6, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn D.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau: Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Vũ Thị M trình bày như sau:

Năm 2002, bà Nguyễn Vũ A có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T và bà Bùi Thị B 03 thửa đất như sau: thửa đất số 07, diện tích 118m2, thửa đất số 330, diện tích 480m2, thửa đất số 329, diện tích 2.050m2. Tổng diện tích chung của 03 thửa đất là 2.648m2. Giá chuyển nhượng toàn bộ diện tích là 67.000.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng xong, thì bà A đã giao đủ tiền và nhận đất sử dụng (có biên bản xác định mốc giới thửa đất) và đi làm thủ tục sang tên đất xong vào năm 2002. Thời điểm ông T giao đất cho bà A thì ông Nguyễn Văn D là người có đất liền kề có chứng kiến và ký giáp ranh. Riêng phần ranh giáp với đất của bà Trương Thị R (nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T cùng thời điểm với bà A) hai bên vẫn chưa phân định ranh cho đến nay. Lý do là khi nhận chuyển nhượng đất từ ông T, bà A và bà R có thỏa miệng với nhau là mua chung.

Sau khi nhận chuyển nhượng đất, bà A có cho ông D sử dụng nhờ phần đất này hơn 10 năm. Từ trước đến nay hai bên không có tranh chấp, đến tháng 10/2019 khi bà A phát hoang đất thì ông D lại tranh chấp và chỉ ranh qua phần đất của bà A hơn 4m, việc làm này của ông D là hoàn toàn vô căn cứ.

Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông Nguyễn Văn D được cấp năm 1997, thì đối với thửa đất số 4, sau khi trừ đi diện tích đất mà ông D đã chuyển nhượng cho người khác và chuyển mục đích, thì đến 2018 khi ông D được cấp đổi giấy chứng nhận, diện tích đất đã tăng thêm 558m2. Lý do có việc này là khi cấp đổi lại giấy chứng nhận, ông D có mời cơ quan chuyên môn đo đạc, nhưng không có mời các hộ giáp ranh ký giáp ranh, nên việc cấp đổi giấy có sai sót về số liệu đối với diện tích đất của thửa đất số 4. Đối chiếu diện tích đất trong giấy chứng nhận được cấp với phần đất theo đo đạc thực tế của Tòa án thì diện tích đất của bà A và bà R đều bị thiếu, còn diện tích đất của ông D thì dư.

Bà Nguyễn Vũ A yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận cho bà Nguyễn Vũ A được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 255m2, được ký hiệu trong Mảnh Trích đo địa chính là vị trí số I, IIa, IIb.

Quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Ông Nguyễn Văn D có một phần đất tọa lạc khu vực 4, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang giáp với đất của ông Nguyễn Văn T (cha ông D). Phần đất của ông D và ông T có con mương làm ranh, chiều rộng khoảng 1,5m (hiện tại con mương này đã bị lấp), toàn bộ con mương này là của ông D. Ngoài ra, do là chỗ cha con nên ông D có cho ông T đào 01 con mương liền kề qua đất ông D (con mương này hiện nay vẫn còn).

Khi ông T chuyển nhượng đất cho bà A thì ông D có ký vào biên bản đo đạc, nhưng ký với ý nghĩa xác nhận ông T có chuyển nhượng đất, không phải ký giáp ranh. Đối với trụ đá cắm sát mé mương phía Hẻm Chùa Phước Huệ là do phía nguyên đơn và ông T cắm, ông D không có cắm. Khi cắm trụ đá này thì ông D có biết, nhưng do ông D thiếu hiểu biết nên không có ý kiến hay phản đối gì. Sau khi nhận chuyển nhượng đất của ông Tý, bà A và bà R có cho ông D sử dụng nhờ đất một thời gian. Quá trình ông D sử dụng đất thì có chuyển nhượng cho một số người, đến năm 2018 ông D tiến hành làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận. Lý do diện tích đất được cấp mới lớn hơn diện tích còn lại trong giấy chứng nhận cũ, là do trước đây ông D kê khai chưa hết phần đất ông T cho, nên năm 2018 ông D kê khai bổ sung. Việc cơ quan có thẩm quyền cấp mới giấy chứng nhận cho ông D vào năm 2018 là dựa vào bản đồ chính quy.

Ông Nguyễn Văn H phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận cho ông Nguyễn Văn D được quyền sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 255m2, được ký hiệu trong mảnh trích đo địa chính là vị trí số I, IIa, IIb. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn D được cấp năm 2018.

Quá trình Tòa án thu thập chứng cứ và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị R trình bày:

Năm 2002 bà Trương Thị R và bà Nguyễn Vũ A thỏa thuận mua hết phần đất của ông Nguyễn Văn T. Bà R và bà A có thỏa thuận miệng với nhau là mua chung, nên khi mua đất chỉ có xác định ranh với các hộ có đất liền kề trong đó có ông Nguyễn Văn D. Riêng phần ranh đất của bà R và bà A chưa phân định ranh trên thực địa. Tuy nhiên, bà R và bà A không có tranh chấp, việc xác định ranh hai bên sẽ thỏa thuận với nhau sau khi kết thúc vụ án này. Riêng trong vụ án này bà R xác định mình không có tranh chấp với ai và không có yêu cầu gì.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 79/2020/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Vũ A.

Công nhận cho bà Nguyễn Vũ A được quyền sử dụng phần đất có diện tích 255m2, loại đất CLN, tờ bản đồ số 4 (theo bản đồ chính quy là tờ bản đồ số 10), tọa lạc tại khu vực 4, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang, được ký hiệu trong Mảnh trích đo địa chính số 11-2020 ngày 20/02/2020 của Công ty TNHH Tư vấn Thiết kế Xây dựng Hiện Đại – Chi nhánh tỉnh Hậu Giang là vị trí số số I, IIa, IIb. Về kích thước và tứ cận được thể hiện trong Mảnh trích đo địa chính kèm theo bản án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng; quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 30/7/2020 ông Nguyễn Văn D kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm. Yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết bác toàn bộ yêu cầu của phía nguyên đơn Nguyễn Vũ A. Sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm ngày 21/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Hậu Giang và công nhận phần diện tích đất tranh chấp tại bản án sơ thẩm ngày 21/7/2020 là của ông D.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn phát biểu: Việc cắm ranh giữa bà A với ông D diễn ra sau thời điểm lập biên bản đo đạc là không đúng trình tự. Việc nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn D vào năm 1997 và năm 2018 là hoàn toàn đúng pháp luật không phụ thuộc vào việc đương sự ký giáp ranh. Ranh đất theo sử dụng của ông D là đường gấp khúc, những người làm chứng xác nhận con mương do ông D đào và sử dụng.

Đề nghị Tòa án căn cứ vào chứng cứ là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D được cấp năm 2018 để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời công nhận cho ông D được quyền sử dụng toàn bộ phần đất tranh chấp có diện tích 255m2, được ký hiệu trong mảnh trích đo địa chính là vị trí số I, IIa, IIb.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng qui định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn D, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Phần đất tranh chấp theo kết quả đo đạc thực tế có diện tích 255m2, tại vị trí số I, IIa, IIb theo mảnh tríc đo địa chính số 11-2020 ngày 20/02/2020 của Công ty TNHH Tư vấn Thiết kế Xây dựng Hiện Đại chi nhánh Hậu Giang. Hiện trạng phần đất tranh chấp là một con mương và một phần liếp để trống không thể hiện rõ việc canh tác và quản lý của người sử dụng đất.

[2.2] Phần đất của ông Nguyễn Văn D tại thửa 227 có một cạnh tiếp giáp với phần đất của bà Nguyễn Vũ A tại thửa 329, 330. Đối chiếu với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các bên được cấp so với diện tích thực tế các bên đang sử dụng, Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Bà Nguyễn Vũ A và bà Trương Thị R, ông Trương Hữu Tr có nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn T hết diện tích đất là 5.309m2, gồm 03 thửa đất số 5, 6 và 7. Cụ thể: bà A nhận chuyển nhượng hết thửa đất số 7, diện tích: 118m2 (loại đất T), một phần thửa đất số 5 (thửa mới là 330), diện tích: 480m2 (loại đất LNK), một phần thửa đất số 6 (thửa mới là 329), diện tích: 2.050m2 (loại đất Q). Còn bà R và ông Tr nhận chuyển nhượng phần còn lại của thửa đất số 5, có diện tích là 480m2 (loại đất LNK) và thửa đất số 6 có diện tích 2.181m2 (loại đất Q). Khi chuyển nhượng đất có việc đo đạc của cơ quan chuyên môn, có chữ ký của những người có đất liền kề theo biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất (bl 73, 141, 142). Bà A và bà R, ông Tr đã làm thủ tục sang tên đất vào năm 2002. Tuy nhiên, đến nay bà A và bà R, ông Tr vẫn chưa tiến hành phân định ranh giới đất trên thực địa. Diện tích đất theo đo đạc thực tế không tranh chấp của bà A, bà R, ông Tr đang sử dụng là 4.736m2 (tH 573m2). Đối với phần đất của ông Nguyễn Văn D: Diện tích thửa đất số 4 ông D được cấp giấy chứng nhận vào năm 1997 là 2.617m2. Sau khi trừ đi phần ông D đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H diện tích 936m2, chuyển nhượng cho bà Quách Thị B diện tích 350m2, chuyển nhượng cho ông Nguyễn T diện tích 150m2 và chuyển mục đích sử dụng đất 70m2 thì diện tích còn lại của thửa đất số 4 là 1.111m2. Tuy nhiên, năm 2018 ông D đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp mới giấy chứng nhận đối với thửa đất số 4, thì thửa đất mới số 227 có diện tích là 1.669,5m2 (tăng lên 558,5m2). Đối chiếu với diện tích thực tế sử dụng (không tính phần đất tranh chấp) tại thửa 227, diện tích 1.438,2m2 so với diện tích tại thửa số 4 (cũ) thì đất ông D sử dụng thừa 327.2m2, đối chiếu với thửa 227 được cấp mới năm 2018 thì phần đất ông D thiếu 231.3m2.

[2.3] Xét về hình thể thửa đất tranh chấp cũng như quá trình sử dụng đất: Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000269, ngày 20/5/1997 cấp cho hộ Nguyễn Văn T là cha của ông Nguyễn Văn D tại thửa 05, 06, 07 có một cạnh tiếp giáp với thửa số 4 của hộ ông Nguyễn Văn D là một đường thẳng phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00758, ngày 07/5/2002 của hộ Nguyễn Vũ A và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000268, ngày 01/4/1997 của hộ ông Nguyễn Văn D. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/9/2002 gia đình ông Tr, bà R và ông D có lập biên bản đo đạc xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất có ông D ký tên xác nhận (bl 72), theo mô tả thì cạnh tiếp giáp giữa hai phần đất tranh chấp là một đường thẳng. Năm 2018 sau khi ông D làm thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phần đất ông D tăng 558.5m2, quá trình cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có hộ bà Nguyễn Vũ A ký giáp ranh, do sai sót trong quá trình cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có một phần đất của ông D tại thửa 227 chồng lấn lên phần đất của bà A tại thửa 229, thửa 330.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác định sau khi chuyển nhượng đất bà A, bà R và ông Tý có thống nhất cấm trụ đá làm ranh, ông D có biết nhưng không có ý kiến phản đối gì. Đối với trụ đá cậm thỏa thuận theo mảnh trích đo địa chính số 11-2020, nguyên đơn và bị đơn thống nhất do các bên cậm thỏa thuận nhưng sau đó các đương sự thay đổi ý kiến và không thống nhất theo trụ đá cậm thỏa thuận nên phát sinh tranh chấp. Do đó không thể xác định ranh đất giữa hai bên theo trụ đá cậm thỏa thuận.

Nguyên đơn chỉ ranh theo mảnh trích đo địa chính số 11-2020, phần đất nguyên đơn đến 02 trụ đá có sẵn là phù hợp, bị đơn cho rằng phần đất của bị đơn kéo dài từ trụ đá đến trụ cây một đầu chiều ngang 6.2m, đầu còn lại chiều ngang 5.1m (phần đất tranh chấp 255m2) là không phù hợp.

[2.4] Qua trao đổi với Ủy ban nhân dân thành phố V, tại văn bản số 1025/UBND-NC ngày 04/5/2020 thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Nguyễn Vũ A và hộ Nguyễn Văn D là đúng theo quy định Luật đất đai năm 1993. Việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất của hộ ông Nguyễn Văn D là thực hiện theo hệ thống bản đồ chính quy được Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hậu Giang duyệt ngày 03/3/2014 là đúng trình tự theo quy định. Tuy nhiên, về thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn D, theo bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất đo vẽ ngày 28/5/2018 (bl 38) thể hiện có việc đo vẽ sơ họa mốc giới thửa đất số 227 nhưng không thể hiện có ký giáp ranh của người sử dụng đất liền kề là bà A nên về trình tự, thủ tục cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 227 là có sai sót.

Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00758 cấp cho hộ Nguyễn Vũ A thể hiện: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00758 do Ủy ban nhân dân thị xã V ký năm 2002 cấp cho hộ Nguyễn Vũ A, thửa đất 329 và thửa 330, tờ bản đồ số 4, là một đường thẳng giáp thửa đất số 4 cấp cho hộ Nguyễn Văn D.

Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện V ký ngày 01/4/1997 cấp cho hộ Nguyễn Văn D thửa số 4, tờ bản đồ số 4 là một đường thẳng giáp thửa số 5 và thửa số 6 cấp cho hộ Nguyễn Vũ A. Ngày 09/7/2018 Ủy ban nhân dân thành phố V ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH0976 cấp cho hộ Nguyễn Văn D, thửa 227, tờ bản đồ số 10, diện tích 1.669,5m2, thì ranh đất có lệch về phần đất hộ bà Nguyễn Vũ A là do thực hiện trích lục bản đồ địa chính chính quy được Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường duyệt ngày 03/3/2014. Từ năm 1997 hộ bà Nguyễn Vũ A và hộ ông Nguyễn Văn D sử dụng đất giáp ranh là một đường thẳng. Năm 2018 ông Nguyễn Văn D lập hồ sơ đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thay đổi về ranh đất nên lược đồ hai giấy chứng nhận cấp cho hộ bà Nguyễn Vũ A và giấy chứng nhận cấp cho hộ ông Nguyễn Văn D là không trùng khớp.

[2.5] Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn D có đơn đề nghị đo đạc lại toàn bộ phần đất tranh chấp, theo mảnh trích đo địa chính số 125-2021 ngày 18/02/2021, ông D chỉ ranh phát sinh thêm phần đất tại vị trí 1, 2, 3 với tổng diện tích 111.2m2. Tuy nhiên, bà A, bà R và các hộ giáp ranh (đại diện của ông Nguyễn Văn S là bà Nguyễn Thị H), (đại diện bà Trương Kim C là bà Huỳnh Thị H) không đồng ý theo sự chỉ ranh của ông D. Qua làm việc với bà H là đại diện của bà Trương Kim C cho rằng ông D chỉ ranh phát sinh thêm tại vị trí số 3 lấn qua đất của bà C diện tích 29m2 nên bà không thống nhất với mảnh trích đo địa chính số 125-2021. Bà Huê là đại diện của ông Nguyễn Văn S cho rằng đất của ông S giáp ranh với đất của ông T. Năm 2002 ông T chuyển nhượng phần đất trên cho bà R và bà M, khi chuyển nhượng có đo đạc và chỉ ranh cụ thể, có cấm trụ đá 02 đầu. Bà thống nhất với mảnh trích đo địa chính số 11-2020, bà không thống nhất với mảnh trích đo địa chính số 125-2021 theo sự chỉ ranh của ông D. Xét thấy, ông D chỉ ranh phát sinh thêm phần đất tại vị trí 1, 2, 3 có diện tích 111.2m2 cộng thêm phần đất tranh chấp cũng không đủ diện tích đất bà A, bà R và ông trí nhận chuyển nhượng đất của ông T. Mặt khác các hộ lân cận giáp ranh với phần đất của bà A và bà R cũng không đồng ý việc chỉ ranh phát sinh thêm của ông D.

[2.6] Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn H cung cấp chứng cứ mới là “Tờ bán đất” (bản photo) được lập ngày 09/02/1991, ông H cho rằng bà X bán cho ông T nửa công đất trồng lá giáp ranh với phần đất là con mương và toàn bộ con mương là của ông D. Lời khai của những người làm chứng ông Trần Văn T, ông Bùi Tấn T cũng cho rằng toàn bộ con mương là của ông D. Xét thấy, theo tờ bán đất năm 1991 bà X chuyển nhượng đất cho ông T đến năm 1997 ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến năm 2002 ông T chuyển nhượng toàn bộ phần đất trên cho bà A và bà R trong đó có con mương như phần trên đã nhận định thì lời trình bày của người làm chứng là không có căn cứ.

Từ những cơ sở phân tích trên, ông Nguyễn Văn D cho rằng bà A lấn đất và yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp có diện tích 255m2 theo kháng cáo ngày 30/7/2020 là không có cơ sở để Tòa án chấp nhận.

[2.7] Đối với công trình và cây trồng trên đất tranh chấp:

Quá trình xem xét thẩm định tại cấp phúc thẩm thể hiện trên phần đất tranh chấp có một phần Chòi do nguyên đơn xây dựng tại vị trí số III, diện tích 9.1m2 và 05 cây chuối loại B, 02 cây chuối loại C, dừa nước loại C: 6m2. Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm thể hiện trong biên bản xem xét thẩm định có phần Chòi nhưng lại không xem xét giải quyết là có thiếu sót và cây trồng là phát sinh sau khi giải quyết tại cấp sơ thẩm. Tuy nhiên do phần đất được công nhận cho nguyên đơn nên nguyên đơn được tiếp tục quản lý sử dụng công trình kiến trúc và cây trồng trên đất là có cơ sở không làm ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án. Do đó, cấp phúc thẩm chỉ điều chỉnh cho phù hợp thực tế, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về nội dung này.

[4] Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn D thuộc diện người cao tuổi được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 147, Điều 148, Điều 157, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 99, Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn D. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Vũ A.

Công nhận cho bà Nguyễn Vũ A được quyền sử dụng phần đất có diện tích 255m2, loại đất CLN, tờ bản đồ số 4 (theo bản đồ chính quy là tờ bản đồ số 10), tọa lạc tại khu vực 4, phường IV, thành phố V, tỉnh Hậu Giang, được ký hiệu trong Mảnh trích đo địa chính số 11-2020 ngày 20/02/2020 của Công ty TNHH Tư vấn Thiết kế Xây dựng Hiện Đại – Chi nhánh tỉnh Hậu Giang là vị trí số số I, IIa, IIb. Về kích thước và tứ cận được thể hiện trong Mảnh trích đo địa chính kèm theo bản án. Bà Nguyễn Vũ A được tiếp tục quản lý sử dụng công trình kiến trúc và cây trồng trên đất.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn D.

- Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Vũ A 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002896 ngày 17 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn D. Ông Nguyễn Văn D được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0003218, ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

4. Về chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Văn D có nghĩa vụ chịu 6.508.000đ (sáu triệu năm trăm lẻ tám nghìn đồng) để trả lại cho bà Nguyễn Vũ A đã nộp tạm ứng trước đó.

5. Chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn D phải chịu số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) ông D đã nộp xong.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 21/5/2021.


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 55/2020/DS-PT NGÀY 22/05/2020 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, LỐI ĐI QUA BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ, ĐÒI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

Ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 162/2019/TLPT-DS ngày 23 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, lối đi qua bất động sản liền kề và đòi bồi thường thiệt hại”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 82/2019/DS-ST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 18/2020/QĐ-PT ngày 06/2/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2020/QĐ-PT ngày 26/2/2020 và số 51A/2020/QĐ-PT ngày 26/3/2020, Thông báo mở lại phiên tòa số 46/2020/TB-TA ngày 04/5/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1956, địa chỉ: Số A9 đường B, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt)

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Khắc M, sinh năm 1955; địa chỉ: Số A9 đường B, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1960, địa chỉ: Số 2/2A đường L, Phường 2, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Trần Khắc M, sinh năm 1955; địa chỉ: Số A9 đường B, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)

2. Bà Vũ Thị H, sinh năm 1986; địa chỉ: Số 2/2A đường L, Phường 2, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có đơn xin giải quyết vắng mặt)

3. Ông Trần Hồng K, sinh năm 1973, địa chỉ: C5-3/11 Trung tâm đô thị C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).

4. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V, địa chỉ: Số 94 đường H, Phường 1, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quang P, chức vụ: Giám đốc (có đơn xin vắng mặt).

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/8/2016, đơn khởi kiện bổ sung ngày 08-8- 2017, bản tự khai và các buổi làm việc tại Tòa, nguyên đơn, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Năm 1994, bà Nguyễn Thị O (là cô của bà Nguyễn Thị G) có chia đất cho các hộ trong dòng họ gồm hộ ông U, bà Y, bà X và bà G mỗi người một miếng đất. Phần đất bà G được cho có diện tích 100m2 thuộc thửa số 1635, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại Phường 3, thành phố V, đã được UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R ngày 20/9/2000 cho bà Nguyễn Thị G, kèm theo là sơ đồ vị trí do Phòng Kinh tế Uỷ ban nhân dân thành phố V lập ngày 10/9/1994. Ranh giới đất giữa các hộ được chia trong dòng họ thể hiện trên bản vẽ sơ đồ mang tính chất liên hệ, không có trên thực địa. Thực tế các hộ được chia đất muốn xác định vị trí đất của mình đều phải dựa vào đường ranh giới giữa đất của bà O với đất của Tập đoàn. Theo đó, đất của bà G được xác định bắt đầu từ ranh giữa đất bà O và đất Tập đoàn là 32,5m, kết thúc là 42,2m.

Ông Nguyễn Ngọc C khi mua phần đất của bà Nguyễn Thị V (là con của bà U) chỉ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có sơ đồ vị trí đất kèm theo. Sau này, ông C đo vẽ lại sơ đồ vị trí đất nhưng không lấy chữ ký giáp ranh giữa các hộ liền kề nên hậu quả là sai lệch vị trí đất sử dụng trên thực địa.

Tháng 6/2016, bà G phát hiện ông C tự ý xây dựng lấn chiếm trên toàn bộ diện tích đất này nên bà đã gửi đơn khiếu nại ra Uỷ ban nhân dân Phường 3, thành phố V yêu cầu giải quyết nhưng không có kết quả nên bà G đã khởi kiện ông C tại Tòa.

Nay, bà G yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

1. Yêu cầu ông C phải H trả cho gia đình bà G phần diện tích 100m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R cấp ngày 20-9-2000 đứng tên Nguyễn Thị G. Theo đó, ông C phải tự nguyện tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc có trên đất để trả lại nguyên trạng đất cho bà G. Cụ thể bà G yêu cầu ông C trả cho bà phần đất theo các điểm tọa độ 1-2-3-10-11-14-15-16-21-17-18-1 (tức là các lô B, B1, D), diện tích 98,1m2 theo sơ đồ vị trí ngày 11/5/2018 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V (viết tắt là CNVPĐKĐĐ TP.V) lập.

2. Yêu cầu ông C phải khấu trừ phần đất có diện tích 38,6m2 (ngang 02m, kéo dài dọc theo thửa đất của ông C hướng ra phía đường N) nằm trong diện tích đất của ông C đang sử dụng (có tọa độ 10-11-12-22-23-24-25-27-27A-28-7-8-9-10 theo Sơ đồ vị trí ngày 05/11/2018) để làm lối đi chung. Căn cứ cho yêu cầu này là vì:

- Ông C chỉ được công nhận phần diện tích 196,9m2 nhưng thực tế sử dụng là 235m2 (Theo Sơ đồ vị trí đất do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố V cấp ngày 06/01/2012).

- Nguồn gốc đất từ xưa khi các bên thỏa thuận với nhau có chừa lối đi chung ngang 0,5m sẵn có, tuy nhiên ông C đã xây dựng lấn chiếm mất phần lối đi chung này. Vị trí của lối đi chung này, phía nguyên đơn không xác định được do đây là đất ruộng.

- Đất của ông C chỉ là đất nông nghiệp, không được phép xây dựng nhưng ông C lại xây dựng nhà trái phép, bịt kín lối đi.

3. Yêu cầu ông C phải bồi thường thiệt hại về tinh thần và vật chất cho toàn bộ các thành viên trong gia đình bà G trong thời gian khởi kiện bắt đầu từ tháng 01/2016 cho đến tháng 10/2019 với mức 4.000.000đ/tháng. Tổng số tiền yêu cầu bồi thường là 184.000.000đ (Một trăm tám mươi tư triệu) đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà G yêu cầu bồi thường cụ thể như sau:

- Tiền cho thuê đất để trồng rau muống 09 tháng từ tháng 01/2016 đến tháng 9/2016, mỗi tháng 1.000.000 đồng, tổng cộng là 9.000.000 đồng.

- Số tiền 37.000.000 đồng thu nhập của ông M bị giảm mỗi tháng 1.000.000 đồng trong 37 tháng (thời gian 37 tháng đi khởi kiện).

- Số tiền bồi thường về sức khỏe bị giảm sút cho bà G và ông M do đi khởi kiện mỗi người 1.000.000đ/tháng, trong 37 tháng (đi khởi kiện), tổng cộng là 72.000.000 đồng.

- Tiền chi phí thuê xe, đi lại để khởi kiện là 40.000.000 đồng.

- Tại phiên tòa sơ thẩm bà G yêu cầu thêm tiền thất thu do không thể xây dựng và cho thuê phòng trọ trong thời gian 35 tháng từ 10/2016 đến tháng 11/2019 (đã trừ đi 02 tháng là thời gian xây dựng dự kiến), mỗi tháng 12.500.000 đồng, tổng số tiền là 437.500.000 đồng.

Tổng cộng là: 597.500.000 đồng, nhưng ông M, bà G chỉ yêu cầu ông C bồi thường số tiền là 500.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đối với Sơ đồ vị trí do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai TP.V lập ngày 11/5/2018, bà G và ông M không đồng ý nhưng ông bà không có yêu cầu đo vẽ lại. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông M và bà G đồng ý lấy Sơ đồ vị trí do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V lập ngày 11/5/2018 để làm căn cứ giải quyết.

Bà G yêu cầu Tòa án xem xét hủy bản Trích đo bản đồ địa chính do Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất thành phố V (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai TP. V) lập ngày 06/01/2012 đối với phần đất của ông C, lý do: Bản trích bản đồ đo địa chính này không đúng với thực tế, không đúng với bản đồ địa chính khu đất và không có chữ ký giáp ranh của ông bà.

Quá trình giải quyết vụ án, bà G được biết ông C đã chuyển nhượng thửa đất đang tranh chấp cho ông K, hợp đồng được công chứng tại Phòng công chứng số 3, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Tuy nhiên, do đất còn tranh chấp nên việc chuyển sang tên chưa được thực hiện. Do đó, về pháp lý, thửa đất vẫn là của ông C, do đó bà G không có ý kiến gì đối với ông K và cũng không yêu cầu Tòa án xem xét đến tính pháp lý của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C với ông K.

Quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Nguyễn Ngọc C trình bày:

Năm 2011, Ông có mua của bà Nguyễn Thị V 01 lô đất tọa lạc tại 176/40/1/7H đường C, Phường 3, thành phố V với diện tích 235m2 thuộc thửa 1625, tờ bản đồ số 02 với giá 500.000.000 đồng. Khi mua đất của bà Vẹn đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R cấp ngày 06/9/2000 đứng tên bà Nguyễn Thị V, ngày 16/01/2012 được đăng ký biến động sang tên Ông với diện tích 196,9m2. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R ngày 06/9/2000 cấp cho bà Nguyễn Thị V thì giảm 38m2, việc giảm diện tích là do khi đo đạc lại có sự chênh lệch và Ông tự nguyện làm đơn cam kết.

Năm 2016, Ông có tiến hành xây dựng 01 căn nhà tạm trên đất với diện tích khoảng 60m2. Khi Ông xây dựng nhà, lô đất bên cạnh còn để trống, dân xung quanh đổ rác hôi thối nên Ông mới xây dựng tường rào bao quanh đất, không biết đất trên là của bà G và cũng không biết đã lấn đất và lấn bao nhiêu.

Theo yêu cầu khởi kiện của bà G, Tòa án đã tiến hành đo đạc. Căn cứ sơ đồ vị trí ngày 11/5/2018, bà G yêu cầu Ông trả lại 98,1m2 đất theo các điểm tọa độ 1-2-3- 10-11-14-15-16-21-17-18-1. Nếu trả đất theo yêu cầu của bà G thì đất của Ông sẽ giảm tiếp diện tích là 9m2, còn lại 187,6m2. Tuy nhiên, để vụ án sớm kết thúc và ổn định cuộc sống, Ông đồng ý theo yêu cầu của bà G, chấp nhận tự nguyện tháo dỡ toàn bộ công trình kiến trúc có trên phần đất thuộc các lô B, B1, D diện tích 98,1 m2 trên sơ đồ vị trí ngày 11/5/2018 để trả đất cho bà G.

- Đối với yêu cầu của bà G về việc khấu trừ 38,6m2 đất thuộc quyền sử dụng của ông theo các điểm tọa độ 10-11-12-22-23-24-25-27-27A-28-7-8-9-10 để làm lối đi cho bà G, Ông không đồng ý vì: Toàn bộ khu đất này là đất nông nghiệp, hiện không có quy hoạch mở đường; phần đất bà G yêu cầu mở lối đi nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ông, bà G không đồng ý trả tiền cho Ông để mua đất mở lối đi; mặt khác theo sơ đồ vị trí ngày 10/9/1994, đất của bà G có lối đi ra hẻm 337 đường C, Phường 3, TP.V, hiện nay lối đi này vẫn còn nhưng do không ai sử dụng nên không có lối mòn chứ không phải không có lối đi nào khác như bà G trình bày.

Ngoài ra, theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất tại khu vực tranh chấp, đất bà G tại điểm vị trí tọa độ số 1 theo sơ đồ vị trí do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V lập ngày 11/5/2018, là góc mặt tiền đường T mới và đường N.

- Đối với yêu cầu của bà G buộc Ông bồi thường thiệt hại số tiền 184.000.000 đồng theo Biên bản hòa giải ngày 15/10/2019 và tại phiên tòa bà G bổ sung thành 500.000.000 đồng là hoàn toàn vô lý nên Ông không đồng ý, bởi lẽ: Khi mua đất của bà Vẹn, không có ranh giới giữa đất của bà V và bà G, bản thân Ông không biết được đất của bà G đến đâu nên có xây dựng lấn qua. Bản đồ địa chính Phường 3 không thể hiện ranh giới các thửa cũng không có tọa độ đỉnh thửa. Khi giải quyết tranh chấp qua đo đạc thực tế, Ông đồng ý giảm diện tích để trả đất cho bà G.

Ngoài ra, việc vụ án kéo dài phần lớn do phía bà G, cụ thể khi khởi kiện, bà G không chỉ ranh được đất của mình và liên tục bổ sung các yêu cầu về đòi lối đi và bồi thường thiệt hại một cách vô lý. Việc tranh chấp kéo dài đã làm mất nhiều thời gian và gây thiệt hại cho Ông nhưng Ông không có ý kiến. Đồng thời, tại Tòa án bà G không đưa ra được căn cứ để chứng M những thiệt hại đã nêu là có thật và do lỗi của Ông.

Trong thời gian tranh chấp Ông có chuyển nhượng đất cho ông K, tuy nhiên tại Tòa ông K và Ông xác định, đất hiện còn đứng tên Ông và các thủ tục pháp lý nếu có liên quan đến việc trả đất, bàn giao đất theo bản án giữa Ông và bà G, sẽ do Ông chịu trách nhiệm. Ông K không có ý kiến hay yêu cầu gì liên quan đến tranh chấp giữa hai bên nên Ông không yêu cầu Tòa án xem xét đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Ông với ông K.

Trường hợp việc đăng ký biến động đất ngày 16/01/2012 giữa Ông và bà V theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R phải điều chỉnh lại theo nội dung Ông trả đất cho bà G như đã trình bày ở trên và diện tích đất của Ông bị giảm thì Ông đồng ý liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh cho đúng theo nội dung bản án.

Ranh đất giữa Ông và các hộ lân cận trừ hộ bà G không có tranh chấp, đã xây dựng và sử dụng ổn định từ trước đến nay nên Ông đồng ý với Sơ đồ vị trí do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TP V lập ngày 11/5/2018, không có yêu cầu định giá hay đo vẽ lại.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Vũ Thị H trình bày: Bà là vợ ông C, Bà thống nhất ý kiến ông C trình bày và không có ý kiến gì khác.

2. Ông Trần Khắc M trình bày: Ông là chồng bà G, Ông thống nhất với ý kiến của bà G.

3. Ông Trần Hồng K trình bày: Ngày 02/02/2018, Ông nhận chuyển nhượng thửa đất số 1625, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại Phường 3, thành phố V của ông Nguyễn Ngọc C và bà Vũ Thị H, có hợp đồng được công chứng chứng thực tại Phòng Công chứng số 3, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cùng ngày. Diện tích chuyển nhượng là 196,9m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R do Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp ngày 06/9/2000. Khi chuyển nhượng, hai bên có tiến hành bàn giao đất trên thực địa, ông C có chỉ ranh đất theo Sơ đồ vị trí do Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố V lập ngày 06/11/2012 nhưng không lập biên bản bàn giao. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng, trên đất có 01 căn nhà do ông C xây dựng. Sau đó, Ông có xây thêm 01 dãy phòng trọ. Khi nhận chuyển nhượng, Ông hoàn toàn không biết việc đất đang có tranh chấp với bà Nguyễn Thị G.

Khi được Tòa án triệu tập Ông mới biết đất đang có tranh chấp, không được trước bạ sang tên, do đó Ông và ông C thống nhất chờ giải quyết tranh chấp xong thì mới làm thủ tục sang tên. Do đất chưa sang tên ông K nên Ông và ông C thống nhất các nội dung liên quan đến tranh chấp giữa ông C với bà G về lô đất sẽ do ông C chịu trách nhiệm và Ông sẽ thực hiện theo phán quyết của Tòa án. Ông không yêu cầu Tòa án xem xét đến tính pháp lý của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Ông với ông C. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà G Ông hoàn toàn thống nhất với ý kiến của ông C. Ông không có yêu cầu hay ý kiến gì đối với ai trong vụ án này.

4. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V trình bày:

Ngày 06/01/2012, Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất thành phố V (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V) có lập trích đo bản đồ địa chính để bổ túc hồ sơ xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 1625, tờ bản đồ số 02 tại Phường 3, thành phố V giữa bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Ngọc C. Sau khi kiểm tra nhận thấy tuy diện tích có giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà V được cấp là 38,1m2 nhưng các bên trong quan hệ chuyển nhượng đồng ý cam kết giảm diện tích và hồ sơ chuyển nhượng đất đã hợp lệ nên Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai TP.V đã xác nhận cho đăng ký biến động đất từ bà Nguyễn Thị V sang ông Nguyễn Ngọc C tại Trang IV Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R vào ngày 16-01-2012.

Về yêu cầu của bà G yêu cầu hủy Trích đo địa chính ngày 06-01-2012 do Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất thành phố V (Nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai TP. V) lập với lý do Trích đo địa chính này không có giá trị pháp lý do không có sự chỉ ranh của bà G, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V không có ý kiến. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai thành phố V đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 82/2019/DS-ST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã áp dụng các Điều 26, 34, 35, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 254, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 2 Luật người cao tuổi; Khoản 4 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH 12 ngày 27/2/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Khoản 2 Điều 26; điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí;

tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Ngọc C về yêu cầu ông C trả lại đất cho bà G:

- Buộc ông Nguyễn Ngọc C tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trên phần đất thuộc các lô B, B1, D có diện tích 98,1m2 theo Sơ đồ vị trí ngày 11/5/2018 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TP.Vũng Tàu lập để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị G và ông Trần Khắc M.

- Hủy Trích đo địa chính ngày 06/01/2012 do Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất TP. Vũng Tàu (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai TP.V) lập để phục vụ đăng ký biến động đất đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R từ tên bà Nguyễn Thị V sang tên ông Nguyễn Ngọc C tại trang IV ngày 16/01/2012.

- Ông Nguyễn Ngọc C liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị G về việc buộc ông Nguyễn Ngọc C phải mở lối đi có diện tích 38,6m2, gồm các lô (H,H1,K,K1,I) ngang 02m, dọc theo đất của ông C hướng ra phía đường N theo Sơ đồ vị trí ngày 11/5/2018.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G về việc buộc ông Nguyễn Ngọc C bồi thường thiệt hại số tiền tổng cộng là 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu) đồngbao gồm các khoản: Chi phí đi lại, thuê xe để đi khởi kiện, lãi vay để đóng tạm ứng án phí, lệ phí tòa án 40.000.000đ (bốn mươi triệu) đồn; chi phí do sức khỏe của bà G và ông M bị giảm sút trong thời gian đi khởi kiện 72.000.000đ (bảy mươi hai triệu) đồngchi phí thất thu do không thể cho thuê đất trồng rau muống 9.000.000đ (chín triệu) đồng và thu nhập của ông M bị mất trong thời gian đi khởi kiện là 37.000.000đ (ba mươi bảy triệu) đồng.

4. Không xem xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị G về việc buộc ông Nguyễn Ngọc C bồi thường thiệt hại 437.500.000đ (bốn trăm ba mươi bảy triệu năm trăm ngàn) đồng tiền thất thu do không thể xây dựng và cho thuê phòng trọ. Dành quyền khởi kiện cho bà Nguyễn Thị G bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật khi có yêu cầu.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên chi phí đo vẽ, thẩm định, định giá, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 19 tháng 11 năm 2019, bà Nguyễn Thị G làm đơn kháng cáo toàn bộ án sơ thẩm như sau: Cấp sơ thẩm làm giả văn bản đo vẽ, các thông số kỹ thuật, điểm mốc vị trí đất không đúng nên Bà không chấp nhận; ông C có quyền sử dụng 38m2 đất là vi phạm, không mở lối đi là vi phạm pháp luật; hành vi lấn chiếm đất của ông Chấn đã gây tổn hại về kinh tế và tinh thần cho gia đình Bà nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận bồi thường thiệt hại là không đúng pháp luật; yêu cầu cơ quan công an, kiểm sát và tòa án làm rõ hành vi làm giả, sử dụng giấy tờ của thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị G vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án;

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Việc chấp hành pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Từ khi thụ lý, trong quá trình tố tụng, các Thẩm phán và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử tiến hành xét xử công khai, đúng trình tự thủ tục tố tụng.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự và những người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.

Xét nội dung kháng cáo:

Bà G kháng cáo cho rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc ông C trả lại đất cho Bà chỉ có 98,1m2 còn thiếu 2m2 và không có tọa độ vị trí đất cụ thể thì thấy diện tích ông C sử dụng của bà G qua đo vẽ chỉ có 98,1m2 nên chỉ có cơ sở buộc ông C trả lại cho bà G diện tích đất này; tọa độ vị trí đã được thể hiện trên sơ đồ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TP V lập ngày 11/5/2018. Vì vậy nội dung yêu cầu này của nguyên đơn đã được cấp sơ thẩm xem xét, giải quyết đúng pháp luật.

Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị G về việc buộc ông Nguyễn Ngọc C phải mở lối đi có diện tích 38,6m2, gồm các lô (H,H1,K,K1,I) ngang 02m, dọc theo đất của ông C hướng ra phía đường N theo Sơ đồ vị trí ngày 11/5/2018. Nhận thấy phần đất của bà G vẫn có lối đi ra đường hẻm 337 (nay là hẻm 176) đường C, Phường 3, TP V; phần đất nằm trong giấy chứng nhận QSD đất của ông C không phải là đất công. Vì vậy yêu cầu này của bà G không được cấp sơ thẩm chấp nhận là có căn cứ.

Đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G về việc buộc ông Nguyễn Ngọc C bồi thường thiệt hại số tiền tổng cộng là 160.000.000 đồng. Đây là những thiệt hại ngoài hợp đồng bà G yêu cầu nhưng không đưa ra được thiệt hại cụ thể nên là không có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu của bà G tại phiên tòa sơ thẩm buộc ông Chẩm bồi thường cho bà số tiền mất thu nhập từ việc xây phòng trọ là 437.500.000 đồng. Đây là yêu cầu được phát sinh tại phiên tòa nhưng lại vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét trong cùng vụ án này, nên cấp phúc thẩm cũng không thể xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà G khởi kiện tranh chấp với ông C nguyên cả diện tích đất mà nhà nước đã cấp giấy chứng nhận QSD đất cho bà G. Như vậy trong trường hợp này Tòa án chỉ xem xét diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của ai mà không phải xem xét về giá trị. Do đó ông C chỉ phải chịu án phí không có giá ngạch.

Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên xử không chấp nhận đơn kháng cáo của bà G. Áp dụng Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự sửa một phần Bản án số 82/2019/DS-ST ngày 12/11/2019 của TAND thành phố Vũng Tàu, ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng; những nội dung khác của án sơ thẩm đề nghị giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1].Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị G nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp lệ; Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo nêu trên như sau:

[2]. Về tố tụng: Đương sự vắng mặt đã có đơn xin vắng mặt và đã được tống đạt hợp lệ nên căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án.

[3]. Xét kháng cáo của bà Nguyễn thị G:

- Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị G không chấp nhận sơ đồ vị trí do Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng và cho đó là tài liệu giả là không có căn cứ. Bà G không đồng ý với sơ đồ vị trí do Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng thì có quyền đề nghị Tòa án đo vẽ lại nhưng bà G không yêu cầu. Bản sơ đồ vị trí Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là do cơ quan có chuyên môn ban hành nên hợp pháp không phải tài liệu giả. Về quá trình tố tụng thì Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện theo quy định, không vi phạm nên bác yêu cầu kháng cáo của bà G.

- Về diện tích đất tranh chấp: Bà G trình bày Bà được cấp 100m2 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ tuyên 98,1m2 còn thiếu 1,9m2 nữa buộc ông C phải trả.Qua xem xét hiện trạng thì thấy ông C không lấn chiếm 1,9m2 nên không chấp nhận yêu cầu của bà G.

- Về yêu cầu ông C bồi thường thiệt hại 160.000.000 đồng gồm chi phí đi lại, thuê xe đi khởi kiện, lãi vay đóng tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án, chi phí giảm sút sức khỏe của vợ chồng bà G, chi phí thất thu do đi kiện không thể cho thuê đất, thu nhập của ông M bị mất do đi kiện. Thấy rằng các chi phí tố tụng là quyền và nghĩa vụ của đương sự phải chịu khi khởi kiện còn các chi phí khác thì pháp luật không quy định.Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà G là có căn cứ. Tại phiên tòa bà G cũng không cung cấp chứng cứ mới nên không chấp nhận kháng cáo.

- Về yêu cầu của bà G buộc ông C phải bồi thường thiệt hại là 437.000.000 đồng do không thể xây dựng nhà trọ cho thuê thì thấy: Bà G yêu cầu bồi thường tại phiên tòa sơ thẩm nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận và giành quyền khởi kiện cho bà G khi có yêu cầu là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy không chấp nhận kháng cáo của bà G.

- Về yêu cầu của bà G yêu cầu bị đơn phải mở lối đi với diện tích là 38,6m2 qua phần đất của ông C để đi ra đường N thì qua xem xét thực tế và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà G thì thửa đất của bà G đang sử dụng đã có lối đi ra đường C, không bị bao bọc bởi các bất động sản liền kề khác.Ngoài ra đất của các đương sự là đất nông nghiệp và diện tích đất trên không phải là đất công mà đã cấp cho ông C do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà G là có căn cứ, bác kháng cáo của bà G.

[4]. Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị G không được chấp nhận nên bà G phải chịu án phí theo quy định nhưng do bà G có đơn xin miễn án phí vì là người cao tuổi nên miễn án phí cho bà G.

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Phần này các đương sự không kháng cáo, qua xem xét Hội đồng xét xử thấy nguyên đơn bà Nguyễn Thị G yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất, bà G đòi tài sản là quyền sử dụng đất không tranh chấp giá trị của đất nên áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì thuộc trường hợp án phí không giá ngạch. Do vậy sửa án sơ thẩm phần án phí, ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.Yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất của bà G được chấp nhận nên không phải chịu án phí phần này.

Đối với yêu cầu của bà G yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Ngọc C mở lối đi chung và đòi bồi thường thiệt hại không được chấp nhận nên bà G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tuy nhiên bà G có đơn xin miễn án phí vì là người cao tuổi nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà G.

[6]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị G. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 82/2019/DS-ST ngày 12/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu về phần án phí, cụ thể như sau:

Áp dụng các Điều 26, 30, 34, 35, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 254, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 2 Luật người cao tuổi; Khoản 4 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH 12 ngày 27/2/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Khoản 2 Điều 26; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a Khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí. Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Ngọc C về yêu cầu ông C trả lại quyền sử dụng đất cho bà G:

- Buộc ông Nguyễn Ngọc C tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trên phần đất thuộc các lô B, B1, D có diện tích 98,1m2 thuộc thửa số 1635, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại Phường 3, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R ngày 20/9/2000 để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị G và ông Trần Khắc M.

- Hủy Trích đo địa chính ngày 06/01/2012 do Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất TP. V (nay là Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai TP.V) lập để phục vụ đăng ký biến động đất đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R từ tên bà Nguyễn Thị V sang tên ông Nguyễn Ngọc C tại trang IV ngày 16/01/2012.

2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị G về việc buộc ông Nguyễn Ngọc C phải mở lối đi có diện tích 38,6m2, gồm các lô (H,H1,K,K1,I) ngang 02m thuộc thuộc thửa 1625, tờ bản đồ số 02 tọa lạc tại Phường 3, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dọc theo đất của ông C hướng ra phía đường N.

Vị trí diện tích đất theo Sơ đồ vị trí lập ngày 11/5/2018 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TP.V.

Các đương sự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G về việc buộc ông Nguyễn Ngọc C bồi thường thiệt hại số tiền tổng cộng là 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu) đồngbao gồm các khoản: Chi phí đi lại, thuê xe để đi khởi kiện, lãi vay để đóng tạm ứng án phí, lệ phí tòa án 40.000.000đ (bốn mươi triệu) đồng; chi phí do sức khỏe của bà Nguyễn Thị G và ông Trần Khắc M bị giảm sút trong thời gian đi khởi kiện 72.000.000đ (bảy mươi hai triệu) đồng; chi phí thất thu do không thể cho thuê đất trồng rau muống 9.000.000đ (chín triệu) đồng và thu nhập của ông Trần Khắc M bị mất trong thời gian đi khởi kiện là 37.000.000đ (ba mươi bảy triệu) đồng.

4. Không xem xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị G về việc buộc ông Nguyễn Ngọc C bồi thường thiệt hại 437.500.000đ (bốn trăm ba mươi bảy triệu năm trăm ngàn) đồng tiền thất thu do không thể xây dựng và cho thuê phòng trọ. Dành quyền khởi kiện cho bà Nguyễn Thị G bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật khi có yêu cầu.

5. Về án phí, chi phí tố tụng sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Ngọc C phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị G. Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị G số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.250.000đ (chín triệu hai trăm năm mươi ngàn) đồng theo các biên lai thu số 0000957 ngày 03/10/2016 và 0007227 ngày 15/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.

- Chi phí đo vẽ, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, sao lục hồ sơ 10.000.000đ (mười triệu) đồngÔng Nguyễn Ngọc C và bà Nguyễn Thị G phải chịu mỗi người 5.000.000đ (năm triệu) đồng và đã nộp xong.

6. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị G.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 49/2017/DS-ST NGÀY 19/10/2017 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Trong ngày 19 tháng 10 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2017/TLST-DS ngày 19 tháng 5 năm 2017 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2017/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 8 năm 2017; Quyết định tạm ngưng phiên tòa số: 05/2017/QĐST-DS ngày 28/8/2017; Thông báo tiếp tục phiên tòa số: 05/TB-TA ngày 04/10/2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thúy O, sinh năm 1958;

Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Thanh B – Văn phòng Luật sư Thanh B, Đoàn luật sư tỉnh Long An

Bị đơn: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1931;

Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1977; Địa chỉ: thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957;

Địa chỉ: ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

2. Ủy ban nhân huyện Cần Giuộc;

Địa chỉ: đường Nguyễn Thái Bình, Khu phố 4, thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn T – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn T – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cần Giuộc.

Bà O, ông L, ông B có mặt; bà H, ông T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn – bà Võ Thị Thúy O trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 695, diện tích 2033m2, tờ bản đồ số 01, loại đất lúa, đất tại ấp L, xã T, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An là của bà Phạm Thị T (là mẹ chồng của bà, chồng của bà tên Trần Văn P, đã chết năm 1974). Bà T cho bà canh tác, sử dụng phần đất này từ năm 1973. Năm 1989 bà T mất. Năm 1996 em chồng của bà là ông Trần Văn Đ (tên gọi khác là Trần Văn S) làm thủ tục tách quyền sử dụng phần đất này cho bà, bà được Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 29/10/1996. Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tiến hành đo đạc thực tế, không ký giáp ranh. Thửa đất của bà giáp với thửa đất số 768 của bà Phạm Thị B. Từ trước đến nay phần đất của bà B là loại đất vườn gò, đất của bà là đất trồng lúa. Bà B có đắp bờ bao xung quanh phần đất của bà B. Trước giờ bà vẫn cấy lúa sát chân bờ bao của bà B, cho đến tháng khô đầu năm 2015, bà cày ruộng thì phía bà B ra ngăn cản, không cho cày, chỉ ranh từ chân bờ ra phần đất lúa của bà từ 2-3m. Bà gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã T yêu cầu giải quyết, Ủy ban nhân dân xã đã tiến hành hòa giải nhưng hai bên không thỏa thuận được. Tại đơn khởi kiện, bà Võ Thị Thúy O khởi kiện yêu cầu bà B trả lại cho bà quyền sử dụng phần đất có diện tích khoảng 300m2 thuộc một phần thửa 695 để bà tiếp tục sử dụng.

Sau khi có kết quả đo đạc thực tế, bà O thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết xác định phần đất có diện tích 167m2, thuộc một phần thửa 695, tờ bản đồ số 1 tương ứng với vị trí tranh chấp số (4) trong Mảnh trích đo địa chính số 01, do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Cần Giuộc duyệt ngày 10/10/2016 thuộc quyền sử dụng của bà Võ Thị Thúy O.

Đối với các vị trí tranh chấp số (1), (2), (3) trong Mảnh trích đo địa chính số 01, có diện tích là 27m2, thuộc một phần thửa 768, bà xác định thuộc quyền sử dụng của bà B, bà không tranh chấp.

Riêng vị trí được đánh dấu (C) trong Mảnh trích đo địa chính số 01, có diện tích là 59m2, thuộc một phần thửa 695, bà xác định không tranh chấp với bà B, bà đồng ý giao cho bà B tiếp tục sử dụng phần đất này.

Đối với vị trí đất được đánh dấu (E) trong Mảnh trích đo địa chính số 01, trước đây phần đất này là vũng lá, sau khi đắp đập khoảng năm 1987, 1988 thì lá chết nên bà cấy lúa đến nay. Theo đo đạc thì phần đất này thuộc thửa 772, có diện tích 133m2, do bà Nguyễn Thị H đứng tên quyền sử dụng đất. Bà không có tranh chấp gì đối với phần đất thuộc thửa 772 này với bà H, bà và bà H tự thương lượng, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn – bà Phạm Thị B trình bày: Nguồn gốc phần đất thuộc thửa 768, diện tích 2086m2, tờ bản đồ số 01, tọa lạc ấp L, xã T, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An là đất công điền, bà sử dụng từ năm 1958 đến nay. Trước đây, chồng của bà là ông Nguyễn Hồng N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu tỉnh. Sau khi ông N chết vào năm 1992, đến năm 1998, bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này theo mẫu trung ương. Khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có tiến hành đo đạc thực tế, không có ký giáp ranh. Hiện trạng giữa phần đất của bà và phần đất của bà O có một cái bờ bao do gia đình bà đắp, phần bờ này bà đắp để nuôi cá, không phải để làm bờ ranh như bà O trình bày, phần bờ này đã đắp cách nay hơn 20 năm, hiện nay cũng bị sạt lở ra mé ruộng. Trước đây giữa hai thửa đất có một bờ ranh lạn, do lâu ngày không bồi đắp nên hiện không còn nữa. Theo bà, vị trí ranh giới giữa hai thửa đất là từ chân bờ hiện tại đo ra phía ruộng của bà O khoảng 4m, vì theo đo đạc thực tế thì diện tích thửa đất của bà O thừa so với diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích thửa đất của bà lại thiếu so với diện tích ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước đây hòa giải ở xã năm 2013 bà O đồng ý đo ra trả cho bà nhưng khi địa chính vô đo đạc thì bà O không đồng ý. Trước giờ vì tình nghĩa làng xóm, bà để cho bà O cấy lúa trên phần đất tranh chấp này để đỡ cỏ mọc, gà của bà nuôi có ra thì chỉ phá phần lúa bà O cấy trên phần đất của bà, sau này hai bên sẽ thỏa thuận đắp bờ ranh lại nhưng bà O không đồng ý theo phần ranh bà chỉ. Bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà O.

Sau khi có kết quả đo đạc, bà B có đơn phản tố yêu cầu bà O phải trả lại cho bà quyền sử dụng các phần đất tranh chấp tương ứng với vị trí số (1), (2), (3), (4) trong Mảnh trích đo địa chính số 01, thuộc một phần thửa số 695, 768 có tổng diện tích là 194m2; yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Võ Thị Thúy O đối với diện tích 167m2, loại đất LUC tương ứng với vị trí số (4).

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B, Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc đã chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi Tòa án tỉnh thụ lý hồ sơ, bà Phạm Thị B có đơn rút lại yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Võ Thị Thúy O đối với phần đất có diện tích 167m2. Do đó, Tòa án tỉnh chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc giải quyết theo thẩm quyền.

Sau khi Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc thụ lý vụ án, bà Phạm Thị B đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, do bà O xác định các vị trí tranh chấp số (1), (2), (3) thuộc quyền sử dụng của bà nên bà chỉ yêu cầu bà Võ Thị Thúy O trả lại cho bà quyền sử dụng phần đất có diện tích 167m2 thuộc một phần thửa 695, tương ứng với vị trí số (4) trong Mảnh trích đo địa chính số 01 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Cần Giuộc duyệt ngày 10/10/2016. Bà rút lại yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với các vị trí tranh chấp số  (1), (2), (3) tương ứng diện tích là 27m2.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H thống nhất với lời trình bày của bà Võ Thị Thúy O. Bà không có tranh chấp gì về phần đất này với bà O.

Tại phiên tòa, bà O rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bà O cho rằng phần đất tranh chấp tương ứng với vị trí số (4) trong Mảnh trích đo địa chính số 01 thuộc quyền sử dụng của bà, trước giờ do bà trực tiếp canh tác, quản lý, bà cấy lúa sát chân bờ của bà B, bà B không có ý kiến gì, đến khi làm thủ tục cấp đổi giấy, sau khi đo đạc phát hiện diện tích thực tế thiếu so với diện tích ghi trong Giấy nên bà B cho rằng bà lấn đất của bà B, hai bên mới xảy ra tranh chấp. Bà xác định không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà B.

Đại diện theo ủy quyền của bà B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà O trả lại cho bà B phần diện tích 167m2, thuộc một phần thửa 695, tờ bản đồ số 1, tương ứng vị trí tranh chấp số (4) trong Mảnh trích đo địa chính. Phần đất này thuộc quyền sử dụng của bà B, bà B lấy đất ở phần đất này đắp bờ bao hiện tại nên hiện trạng phần đất này trũng hơn so với phần gò. Trong thời gian bà B nằm viện, nhà bà B đơn chiếc không có ai, bà O đã phá bờ ranh cấy lúa sát chân bờ bao. Khi về bà B phát hiện có nói chuyện với bà O, nhưng sau đó do tình làng nghĩa xóm nên bà B để cho bà O tiếp tục cấy lúa cho đến nay.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà O trình bày: Trước đây bà O khởi kiện tranh chấp nhưng do bà B cũng khởi kiện tranh chấp đối với cùng phần đất này, nên bà O mới rút yêu cầu khởi kiện, thể hiện ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà B. Theo kết quả đo đạc thực tế phần diện tích tranh chấp số (4) thuộc thửa 695 do bà O đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trước giờ phần đất này do bà O trực tiếp sử dụng trồng lúa. Nên xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Võ Thị Thúy O. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của bà B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bà Võ Thị Thúy O rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện, việc rút đơn khởi kiện của bà O là hoàn toàn tự nguyện, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà O.

Về nội dung vụ án: Bà Phạm Thị B trình bày sau khi nông hội vào đo đất, giữa bà và mẹ chồng của bà O có thuê người đắp một bờ con làm ranh giới, phần bờ này nhỏ chỉ cao hơn mặt ruộng một chút, từ thời điểm đắp đập thì bờ này đã lạn dần do hai bên không có bồi đắp nữa. Sau khi đắp bờ con thì gia đình bà đắp một bờ bao lớn để đào ao nuôi cá, khoảng cách giữa bờ bao và bờ con là 04m. Từ năm 2007 bà O đã cấy lúa sát chân bờ bao nhưng bà nghĩ đã có bờ ranh và vì tình làng nghĩa xóm nên bà không phản đối. Tuy nhiên lời trình bày của bà O và lời khai của những người dân sống lâu năm xung quanh phần đất tranh chấp thì thửa đất số 768 của bà B và thửa đất số 695 của bà O được phân cách bởi một bờ lớn như hiện trạng, bà O vẫn cấy lúa sát bờ ranh đó. Đến khi bà B đo đất thấy thiếu thì bà B ngăn cản, không cho bà O cấy lúa nữa. Đồng thời căn cứ vào Mảnh trích đo địa chính ngày 10/10/2016 phần đất vị trí tranh chấp số (4), diện tích 167m2 thuộc thửa số 695 của bà O. Khi nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất số 768 và thửa 695 thì chỉ theo kê khai của người dân mà không tiến hành đo đạc, ký giáp ranh. Bên cạnh đó, 02 thửa đất này đều giáp rạch nên đất có thể bị hao hụt so với lúc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của bà B là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của đương sự, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại Khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Nguyễn Thị H, đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc - ông Võ Văn T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà H, ông T.

[1.2] Nguyên đơn - bà Võ Thị Thúy O rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn- bà Phạm Thị B rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần tranh chấp có diện tích 27m2 tương ứng với các vị trí tranh chấp số (1), (2), (3) trong Mảnh trích đo địa chính số 01. Xét thấy việc rút yêu cầu khởi kiện của bà O, bà B là tự nguyện, căn cứ Khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà O, một phần yêu cầu khởi kiện của bà B.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự: Bà Phạm Thị B khởi kiện yêu cầu bà Võ Thị Thúy O trả lại cho bà B quyền sử dụng phần đất có diện tích 167m2, thuộc một phần thửa số 695, tờ bản đồ số 1, tương ứng vị trí tranh chấp số (4) trong Mảnh trích đo địa chính số 01 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Cần Giuộc duyệt ngày 10/10/2016.

[2.1] Về nguồn gốc đất, quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thửa đất số 695, loại đất lúa là của mẹ chồng bà O cho bà O sử dụng, canh tác từ năm 1973, đến năm 1996 bà O kê khai đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 273/QĐ.UB.96 ngày 29/10/1996 của Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc. Nguồn gốc thửa 768 là đất công điền, loại đất vườn, bà B sử dụng từ năm 1958 đến nay, trước đây do ông N là chồng bà B đứng tên, sau khi ông N chết, năm 1998 bà B kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Quyết định số 309/QĐ.UB vào ngày 27/7/1998. Theo Công văn số 492/TNMT ngày18/9/2017 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Cần Giuộc xác định: Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 695 là cấp cho bà Võ Thị Thúy O. Việc Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà O đối với thửa số 695 và cho bà Phạm Thị B đối với thửa số 768 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và căn cứ trên cơ sở trích lục bản đồ địa chính, không đo đạc thực tế. Điều này phù hợp với lời trình bày của bà O, bà B, và hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà O, bà B. Do đó có cơ sở xác định, vào thời điểm Ủy ban nhân dân huyện Cần Giuộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà O đối với thửa 695 và bà B đối với thửa 768 không tiến hành đo đạc thực tế các thửa đất nêu trên, không ký giáp ranh giữa các chủ sử dụng đất liền kề.

[2.2] Về quá trình sử dụng đất, thực trạng thửa đất: Bà O trình bày, giữa thửa 768 của bà B và thửa 695 của bà có sự phân biệt rõ ràng, đất của bà B là đất gò, đất của bà là đất lúa, xung quanh phần gò bà B có đắp bờ bao. Bà canh tác lúa trên thửa 695 từ năm 1973 đến nay. Sau khi đắp đập Trị Yên vào khoảng năm 1987, 1988, bà B đào một cái đìa trên phần đất của bà và sử dụng (tương ứng vị trí (C) trên Mảnh trích đo), bà để cho bà B sử dụng không tranh chấp, sau đó bà B đắp bờ bao xung quanh quanh phần gò của bà B bọc luôn phần đìa. Từ trước đến nay, bà cấy lúa sát chân bờ bao này của bà B, bà B không có ý kiến gì. Bà O xác định phần chân bờ bao này là ranh đất giữa hai bên. Bà B cho rằng phần bờ bao hiện tại không phải ranh giới đất giữa hai bên, trước đây giữa bà và mẹ chồng bà O có thống nhất ranh giới giữa hai thửa đất, sau đó bà thuê người đắp một cái bờ con làm ranh, vị trí bờ ranh cách bờ bao hiện tại ra hướng ruộng khoảng hơn 4m tương ứng với diện tích đất đang tranh chấp. Bà O xác định từ khi bà sử dụng đất năm 1973 đến nay giữa hai bên không có thỏa thuận bờ ranh như bà B trình bày. Bà B xác định từ thời điểm đắp đập Trị Yên đến nay thì bờ ranh này không còn nữa, không còn ai biết về sự tồn tại của bờ ranh này. Do đó, không có cơ sở xác định giữa thửa 695 và thửa 768 đã từng tồn tại bờ ranh như bà B trình bày.

Xét thấy tại thời điểm Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ, bà O trồng lúa trên phần đất tranh chấp, giữa phần đất gò của bà B và phần đất lúa của bà O có sự phân biệt rõ ràng; một số người dân sinh sống lâu năm gần phần đất tranh chấp xác định từ trước đến nay, phần đất tranh chấp do bà O sử dụng trồng lúa, bà O cấy lúa sát chân bờ bao hiện tại của bà B. Bà B xác định bà không sử dụng phần đất tranh chấp, trước đây khi đắp bờ bao, bà lấy đất từ phần đất tranh chấp để đắp bờ, nên phần đất này trũng thấp hơn so với phần đất gò. Do trong thời gian bà nằm viện thì bà O phá bờ ranh, cấy lúa sát chân bờ, khi về bà có nói chuyện với bà O nhưng không có báo chính quyền địa phương lập biên bản về việc này. Vì tình làng nghĩa xóm, bà để cho bà O canh tác lúa trên phần đất tranh chấp để đỡ cỏ mọc. Như vậy, bà B thừa nhận bà B để cho bà O sử dụng phần đất tranh chấp này từ lâu và không có tranh chấp gì. Qua đó, có cơ sở xác định phần đất tranh chấp do bà O sử dụng trồng lúa ổn định từ trước đến nay, bà B không có sử dụng.

[2.3] Theo Mảnh trích đo địa chính số 01 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Cần Giuộc duyệt vào ngày 10/10/2016 thể hiện, phần đất tranh chấp thuộc thửa đất 695, do bà Võ Thị Thúy O đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Diện tích đo đạc thực tế của thửa 695 là 2075m2  (bao gồm diện tích đất tranh chấp, và 59m2 phần (C) bà B đang sử dụng), của thửa 768 là 1869m2. Tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không tiến hành đo đạc thực tế các thửa đất mà căn cứ trên cơ sở trích lục bản đồ địa chính, không ký giáp ranh giữa các chủ sử dụng đất, hơn nữa hai thửa đất này đều giáp với rạch nên có sự chênh lệch giữa diện tích ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đo đạc thực tế. Do đó, không thể căn cứ vào diện tích đo đạc thực tế đủ, thiếu so với diện tích ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xác định có việc sử dụng lấn ranh sang phần đất của chủ sử dụng khác hay không.

[2.4] Như vậy, xét về nguồn gốc đất, quá trình và thực tế sử dụng đất, trích đo địa chính thửa đất, thực trạng ranh đất, có cơ sở xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Võ Thị Thúy O. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B không có cơ sở chấp nhận.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá, đo đạc là 3.000.000 đồng, bà O đã nộp đủ. Do yêu cầu khởi kiện của bà B không được chấp nhận nên bà B có trách nhiệm trả lại cho bà O số tiền trên.

[4] Về án phí: Theo kết quả định giá, đơn giá đất lúa tại vị trí đất tranh chấp là 180.000 đồng/m2, diện tích đất tranh chấp là 167m2, giá trị phần đất tranh chấp là 30.060.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của bà B không được chấp nhận nên bà B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.503.000 đồng (30.060.000 đồng x 5%). Tuy nhiên do bà B là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp án phí, căn cứ  vào điểm đ Khoản 1 Điều 12; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm chịu tiền án phí sơ thẩm của bà B.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 157, Khoản 1 Điều 228, Khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 166, 170, 203 Luật Đất đai; các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thúy O về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với bà Phạm Thị B.

2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B về việc yêu cầu bà Võ Thị Thúy O trả lại cho bà B phần đất có diện tích 27m2, thuộc một phần thửa số 768, tờ bản đồ số 1, đất tại ấp Long Phú, xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B về việc yêu cầu bà Võ Thị Thúy O trả lại cho bà B phần đất có diện tích 167m2, loại đất lúa, thuộc một phần thửa 695, tờ bản đồ số 1, đất tại ấp Long Phú, xã Tân Kim, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. (Tương ứng với vị trí tranh chấp số (4) trong Mảnh trích đo địa chính số 01, do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Cần Giuộc duyệt ngày 10/10/2016).

4. Về án phí: Bà Phạm Thị B phải chịu 1.503.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được miễn nộp. Hoàn lại cho bà Phạm Thị B 1.270.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà B đã nộp theo Biên lai thu số 0008593 ngày 17/02/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cần Giuộc.

Hoàn lại cho bà Võ Thị Thúy O 750.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà O đã nộp theo Biên lai thu số 0005589 ngày 28/10/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.

5. Về lệ phí đo đạc, định giá và xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bà Phạm Thị B có trách nhiệm hoàn trả cho bà Võ Thị Thúy O 3.000.000 đồng lệ phí bà O đã nộp.

6. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

7. Bản án sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật

8. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.


 

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 52/2019/DS-PT NGÀY 15/05/2019 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, DI DỜI TÀI SẢN TRÊN ĐẤT VÀ YÊU CẦU HỦY GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Ngày 15 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 162/2018/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời tài sản trên đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2986/2019/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Tạ Thị M; địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Hoàng Thị Kim Kh - Văn phòng Luật sư K, Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Trung Đ; địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Lạng Sơn;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Hữu H - Chủ tịch UBND huyện.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Đình H - Phó trưởng phòng Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện C; có mặt.

2. Ông Hoàng Minh T; địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

3. Anh Mông Văn K; vắng mặt.

4. Chị Mông Thị Băng Th; có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 13/10/2017 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà

Tạ Thị M trình bày: Ngày 10/02/2002, vợ chồng bà mua một thửa ruộng diện tích 360m2 của gia đình ông Hoàng Minh T, có cả phần diện tích đất lối đi. Hai bên có lập “Giấy chuyển nhượng đất ruộng” có trưởng thôn chứng kiến và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã C. Năm 2004, đo đạc tách diện tích nhận chuyển nhượng thành 02 thửa số 257 diện tích 149m2 đất CLN và thửa 259 diện tích 221m2 đất ONT. ngày 16/11/2009, bà được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 257, Tờ bản đồ số 8 bản đồ địa chính xã C. Năm 2012, anh Hoàng Trung Đ là con trai ông Hoàng Minh T đã tự ý xây tường rào lên một phần thửa đất 257 trước đó là đường đi của gia đình bà..Năm 2015, bà gửi đơn kiện đến đến Ủy ban nhân dân xã C, UBND xã đã tổ chức hòa giải hai gia đình nhưng không thành. Nay bà khởi kiện yêu cầu anh Hoàng Trung Đ phải trả lại phần diện tích lấn chiếm và buộc anh Hoàng Trung Đ phải tháo dỡ phần tường rào, bán mái tôn lợp lấn chiếm sang đất tranh chấp.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Mông Thị Băng Th và anh Mông Văn K ủy quyền cho bà Tạ Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu, không có ý kiến bổ sung thêm.

Bị đơn là anh Hoàng Trung Đ trình bày: Việc mua bán đất do bố mẹ anh và vợ chồng bà Tạ Thị M thực hiện, theo giấy mua bán năm 2002 khi đó việc mua bán 01 sào ruộng (360m2) chứ không có đường đi. Bố mẹ anh chỉ cho anh lên ở nhờ tại đất đó, đất vẫn mang tên bố mẹ anh nên anh không có quyền quyết định, tất cả mọi việc sẽ do bố anh là ông Hoàng Minh T quyết định. Anh không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà M.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Minh T trình bày:

Năm 2002, gia đình ông có bán cho vợ chồng bà Tạ Thị M mảnh đất ruộng diện tích 360m2, tại xứ đồng Q (tổng diện tích hơn 2.000m2), theo giấy chuyển nhượng đất ruộng lập ngày 10/02/2002, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã C (giấy này chỉ lập duy nhất 01 bản do gia đình bà M giữ), diện tích đất khi mua bán là vuông thành, sắc cạnh, không có phần đất đường đi đang tranh chấp hiện nay. Sau khi mua bán, gia đình bà Tạ Thị M đã xây tường rào cao l,5m bao quanh khu đất.

Đến năm 2005, ông cho con trai là Hoàng Trung Đ ra ở riêng và xây nhà tại diện tích đất ngay sát đất đã bán cho bà Tạ Thị M. Vào thời điểm đó, anh Đ xây nhà tạm để bán hàng có diện tích 32m2, mái lợp prôximăng, cách đất nhà bà Tạ Thị M 07m. Quá trình anh Đ sinh sống và xây nhà trên diện tích đất này, gia đình bà M không có ý kiến gì, hai bên gia đình vẫn qua lại với nhau.

Đến năm 2013, khi anh Đ xây tường rào bao quanh nhà chồng lên tường rào bà Tạ Thị M xây năm 2002 (nhưng vẫn để một lối đi rộng 0lm cho bà Tạ Thị M đi lại), thì bà M sang yêu cầu trả lại đất với lý do gia đình bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi đó anh Đ gọi ông lên nói chuyện với bà M, hai bên gia đình đã thống nhất không tranh chấp nữa và thống nhất thỏa thuận mở cho gia đình bà M đi lại. Năm 2015, bà M lại cố tình kiện ông từ thôn đến Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban nhân dân huyện và giờ lại kiện anh Đ ra Tòa án nên anh Đ mới xây bịt lối đi lại. Phần đất còn lại của gia đình ông vẫn là đất ruộng, chỉ chuyển đổi từ sổ cũ sang sổ mới. Khi chuyển đổi sổ, ông không được đi kê khai mà do cán bộ xã làm nên ông không biết là không có diện tích đất bà M đang tranh chấp. Khi bà M đi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không báo cho gia đình ông biết, gia đình ông cũng không được ký giáp ranh các hộ liền kề.

Ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị M, yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Tạ Thị M đối với phần diện tích đang có tranh chấp (diện tích 22,8m2 nằm trong thửa số 257).

Đại diện Ủy ban nhân dân huyện C có ý kiến: Qua kiểm tra, rà soát hồ sơ; kiểm tra thực địa đối chiếu trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB348522 cấp cho bà Tạ Thị M tại thửa đất số 257, Tờ bản đồ số 08, bản đồ địa chính xã C lập năm 2004. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 213345 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp lần đầu theo bản đồ giải thửa 299 đối với 02 thửa đất (số 226a, tờ số 03 và thửa 79, tờ số 02). Qua đối chiếu bản đồ giải thửa 229 và bản đồ địa chính xã C lập năm 2004 có kết quả như sau: Thửa đất số 226a, Tờ bản đồ số 03, Bản đồ giải thửa 299 xã C đối chiếu với bản đồ địa chính xã C lập năm 2004 là thửa 204, Tờ số 16; thửa đất số 79, Tờ số 02, Bản đồ giải thửa 299 đối chiếu với Bản đồ địa chính xã C lập năm 2004 là thửa 169, Tờ số 08; thửa đất số 257, Tờ số 08, Bản đồ địa chính xã C lập năm 2004 đối chiếu với bản đồ giải thửa 299, thuộc thửa số 214 và thửa số 02, Tờ bản đồ số 02.

Như vậy, trước khi Ủy ban nhân dân huyện C cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 348522 cho bà Tạ Thị M thì thửa đất số 257, Tờ số 08, Bản đồ địa chính xã C lập năm 2004 chưa từng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do đó, việc Ủy ban nhân dân huyện C cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 348522 cho bà Tạ Thị M là không đúng theo quy định của Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn tại thời điểm do thửa đất số 257, Tờ số 08, bản đồ địa chính xã C lập năm 2004 không thuộc đối tượng được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn hủy bỏ giấy hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 348522 đã cấp cho bà Tạ Thị M. Căn cứ kết quả giải quyết của Tòa án, Ủy ban nhân dân huyện C sẽ tiến hành chỉnh lý biến động đất đai và hồ sơ chỉnh lý theo quy định.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/8/2018, ông Nông Văn Th là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 29/11/2017 xác định một phần đất tranh chấp diện tích 01m2 nằm trong một phần thửa 256, thuộc quyền quản lý sử dụng đất của gia đình ông, đối với phần diện tích đất này gia đình ông đã cho anh Đ sử dụng từ lâu, tường gạch anh Đ xây cũng là xây trên tường bao cũ của gia đình ông, gia đình ông và anh Đ không có tranh chấp đối với diện tích đất trên. Đề nghị Tòa án không triệu tập ông với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 29/11/2017 và ngày 09-10/8/2018 xác định diện tích đất tranh chấp là 30m2. Trong đó có một phần thuộc thửa đất số 257, diện tích 22,8m2 (đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà Tạ Thị M); một phần thửa số 256 là 01m2, thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông Nông Văn Th; một phần thửa số 258 là 01m2, một phần thửa số 265 là 5,2m2 (thửa 258, 265 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Hoàng Minh T - bố anh Hoàng Trung Đ). Trên đất hiện có: Tường xây gạch bê tông trát một mặt, diện tích 18,96m2; hàng rào bằng lưới thép B40 diện tích 13,515m2; mái lợp tôn xà gồ thép diện tích 21,603m2; nền lát gạch nung đỏ diện tích 20,4m2. Tổng giá trị đất và tài sản trên đất 30.142.000 đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2018/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị M về việc yêu cầu anh Hoàng Trung Đ phải tháo rỡ toàn bộ tài sản và các công trình xây dựng trên đất tranh chấp 22,8m2, thuộc một phần thửa đất số 257, Tờ bản đồ số 8, bản đồ địa chính xã C đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 348522 ngày 16/11/2009 cho gia đình bà Tạ Thị M vì không có căn cứ.

2. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 348522 ngày 16/11/2009 của gia đình bà Tạ Thị M đối với phần diện tích đất tranh chấp 22,8m2 (có sơ họa kèm theo). Anh Hoàng Trung Đ có quyền và nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Buộc gia đình bà Tạ Thị M phải chấm dứt việc tranh chấp quyền quản lý sử dụng đất 22,8m2 đối với gia đình anh Hoàng Trung Đ.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét thẩm định và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/9/2018, nguyên đơn là bà Tạ Thị M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là bà Tạ Thị M và người bảo vệ quyền lợi của bà M cho rằng năm 2002 vợ chồng bà M nhận chuyển nhượng 360m2 đất của ông Hoàng Minh T có cả diện tích lối đi đang tranh chấp, sau đó bà M xây nhà và đổ đất làm đường đi tạm trên diện tích đất nhận chuyển nhượng. Tại biên bản hòa giải ngày 06/11/2015, ông Tiến thừa nhận chuyển nhượng 360m2 đất cho ông Phút, bà M với giá 11.000.000đ, nhưng ông Phút chỉ trả được 10.000.000đ, không có tiền nữa nên thống nhất không lấy chỗ đường đi nữa, trừ vào 1.000.000đ còn thiếu. Gia đình ông Tiến không kê khai diện tích đất tranh chấp và diện tích đất này không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Tiến. Việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà M có sai về thủ tục hành chính, nhưng không làm ảnh hưởng đến bản chất của vụ kiện. Lối đi này được hình thành sau khi bà M nhận chuyển nhượng đất và diện tích đất lối đi nằm trong thửa đất số 257 bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhà của bà M nhìn lên đường QL1A, nhưng phải đi lối sau thì không phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của bà M đối với diện tích đất tranh chấp để bà M có lối đi từ nhà ra QL 1A hiện nay.

Bị đơn là anh Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng Minh T thừa nhận có việc ông Tiến chuyển nhượng 360m2 đất cho vợ chồng ông Phút, bà M nhưng không có diện tích lối đi đang tranh chấp. Hiện trạng đất trước khi chuyển nhượng cho vợ chồng ông Phút, bà M là đất ruộng, không có đường đi và hình thể thửa đất chuyển nhượng là vuông thành sắc cạnh; năm 2007 anh Đ đến ở mới hình thành đường đi này. Khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông là do UBND xã làm và gọi lên xác nhận nên ông Tiến không biết diện tích đất ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có diện tích đất lối đi tranh chấp. Ông Tiến và anh Đ không đồng ý với kháng cáo của bà M, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã kết luận: Nguồn gốc đất bà M nhận chuyển nhượng là đất ruộng, đường QL1A sau này mới hình thành; giấy chuyển nhượng đất không thể hiện có diện tích đường đi. Năm 2009, Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà M nhưng cũng không đo đạc, ký giáp ranh với các hộ liền kề. Anh Đ là người sử dụng diện tích đất lối đi tranh chấp, các tài sản trên đất đều nằm trong khuôn viên của anh Đ. Đại diện UBND huyện C cũng xác nhận việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà M là không đúng pháp luật nên đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà M. Do đó, không có căn cứ xác nhận quyền sử dụng 22,8m2 đất tranh chấp là của bà M, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà M; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận của các bên đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Tạ Thị M đảm bảo thời hạn và nộp tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Mông Văn K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập 02 lần nhưng vẫn vắng mặt. Bà M trình bày anh Khiêm đã ủy quyền cho bà tham gia tố tụng, nhưng giấy ủy quyền ngày 27/6/2017 anh Khiêm chỉ ủy quyền cho bà M tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm nên trường hợp này xác định anh Khiêm vắng mặt không có lý do. Xét thấy anh Khiêm không có kháng cáo; bà M, người bảo vệ quyền lợi cho bà M và các đương sự khác trong vụ án; đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đều đề nghị tiến hành xét xử vắng mặt anh Khiêm. Hội đồng xét xử phúc thẩm thảo luận và quyết định tiến hành xét xử vắng mặt anh Khiêm.

[2] Về nội dung:

Theo nội dung “Giấy chuyển nhượng đất ruộng” ngày 10/02/2002 thể hiện: Gia đình ông Hoàng Minh T chuyển nhượng cho gia đình ông Mông Văn Phút (là chồng của bà M) mảnh đất ruộng diện tích 360m2, có tứ cận cụ thể: Phía Đông giáp nhà ông Th, phía Tây giáp đường QL cũ, phía Nam giáp ruộng ông Tiến và phía Bắc giáp khuôn viên nhà ông Th1, ông Th với giá 11.000.000đ; giấy chuyển nhượng có trưởng thôn ký với tư cách người làm chứng và có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã C, nhưng không có sơ họa hình thể thửa đất chuyển nhượng và không thể hiện có phần diện tích đất lối đi đang tranh chấp (BL06). Bà M cho rằng khi nhận chuyển nhượng 360m2 đất ruộng của ông Tiến, có cả diện tích đất lối đi và có đo tứ cận cụ thể (BL 02, 99). Năm 2004, đo đạc tách thửa nên diện tích đất gia đình bà M nhận chuyển nhượng được tách thành 02 thửa là thửa số 257 diện tích 149m2 và thửa số 259 diện tích 221m2. Ngày 16/11/2009, bà M được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 257, Tờ bản đồ số 8 diện tích 149m2 tại thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn (BL10), trong đó có 22,8m2 đất lối đi đang tranh chấp. Tuy nhiên, ông Hoàng Minh T chỉ thừa nhận chuyển nhượng 360m2 đất cho ông Phút, bà M, nhưng không có diện tích đất lối đi đang tranh chấp và hình thể thửa đất chuyển nhượng là vuông thành sắc cạnh (BL104, 133). Năm 2005, ông Tiến cho con trai là Hoàng Trung Đ ra ở riêng tại thửa đất liền kề với thửa đất đã chuyển nhượng cho gia đình bà M. Quá trình sử dụng, anh Đ đã xây nhà ở, đổ đất làm đường đi và đổ đất từ sân nhà đến giáp tường rào nhà bà M, bà M cũng không có ý kiến ngăn cản. Năm 2010, bà M cũng đổ đất phía bên kia tường rào tại phần đất nhà bà M. Năm 2013, khi anh Đ xây tường rào thì bà M cho rằng anh Đ xây lên một phần diện tích đường đi thuộc thửa đất số 257 của gia đình bà để yêu cầu trả lại diện tích đất lối đi.

Xét kháng cáo yêu cầu công nhận quyền sử dụng diện tích 22,8m2 đất đường đi thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà M, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

Mặc dù bà Tạ Thị M được UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 257 diện tích 149m2, Tờ bản đồ số 8 xã C ngày 16/11/2009, có sơ họa thửa đất thể hiện có diện tích đất đường đi đang tranh chấp (BL10). Tuy nhiên, ngoài căn cứ là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì bà M không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc nhận chuyển nhượng đất của ông Tiến có cả phần diện tích đất lối đi. Trong khi đó, ông Hoàng Minh T (là người chuyển nhượng đất cho gia đình bà M) không thừa nhận chuyển nhượng diện tích đất lối đi đang tranh chấp cho gia đình bà M và khi chuyển nhượng cũng không đo phần diện tích đất lối đi này; hiện trạng đất của ông Tiến trước khi nhận chuyển nhượng cho ông Phút, bà M là đất ruộng, không có lối đi. Diện tích đất lối đi này chỉ được hình thành sau thời điểm chuyển nhượng, khi anh Hoàng Trung Đ (là con của ông Tiến) đến ở và đổ đất tại thửa đất liền kề với thửa đất chuyển nhượng cho bà M.

Quá trình giải quyết vụ án, bà M cũng thừa nhận “Giấy chuyển nhượng đất ruộng” ngày 10/02/2012 giữa ông Hoàng Minh T với chồng bà là ông Mông Văn Phút không thể hiện có lối đi mà khi kê khai mới thể hiện. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, gia đình bà M đã xây tường rào bao quanh khuôn viên đất, nhưng không xây tường bao luôn phần diện tích đất lối đi (PTST). Trong khi đó, anh Đ lại khẳng định năm 2005 anh ra xây nhà ở tại thửa đất liền kề với thửa đất của nhà bà M thì bà M đã xây nhà, bếp, tường rào khuôn viên từ trước đó. Năm 2008, anh Đ đổ đất bằng tường rào của nhà bà M xây cao 1,5m và làm sân để bán hàng; khi đổ đất xong thì bà M đi qua đường này (BL55, 133 PTST). Như vậy, sau khi nhận chuyển nhượng đất của gia đình ông Tiến, gia đình bà M đã xây tường rào bao quanh khuôn viên đất nhận chuyển nhượng và chỉ xây đến phần diện tích đất lối đi hiện đang tranh chấp. Tại Biên bản hòa giải ngày 06/11/2015, bà M cũng thừa nhận gia đình anh Đ vẫn để lại đường đi cho gia đình bà (BL16) và thực tế khi anh Đ sử dụng diện tích đất tranh chấp làm sân có lợp mái tôn của gia đình, bà M cũng không tranh chấp (BL57) nên việc bà M cho rằng diện tích đất bà nhận chuyển nhượng có cả diện tích đất lối đi và bà là người đổ đất để làm đường đi là không có cơ sở chấp nhận.

Tại Công văn số 106/UBND-TNMT ngày 02/02/2018 và Biên bản hòa giải ngày 05/6/2018, Ủy ban nhân dân huyện C cũng khẳng định nguồn gốc đất tranh chấp là của gia đình ông Tiến; quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 348522 ngày 16/11/2009 cho bà M thửa đất số 257 là không đúng quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành do thửa đất này không thuộc đối tượng cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà M để chỉnh lý biến động đất đai và hồ sơ địa chính theo quy định (BL88, 104). Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Hoàng Đình H - Phó trưởng phòng Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện C, là đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND huyện C vẫn giữ nguyên quan điểm tại Công văn số 106 nêu trên và khẳng định ông Hoàng Minh T đứng tên chủ sử dụng các thửa đất số 214, 225, 226 và một phần thửa số 227 tại Bản đồ 299 nên thửa đất số 257, Tờ bản đồ số 8 Bản đồ địa chính xã C lập năm 2004 thuộc một phần thửa 214 và thửa 227 Tờ bản đồ số 2 Bản đồ 299.

Như vậy, bà M chỉ căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp có thể hiện diện tích đất lối đi để khởi kiện, nhưng UBND huyện C đã khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà M là không đúng quy định của pháp luật và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà M. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện UBND huyện C cũng xác định Bản đồ địa chính năm 1988 - 2004 không thể hiện có đường đi ở vị trí đất đang tranh chấp. Ông Hoàng Minh T là người chuyển nhượng đất cho bà M cũng khẳng định không chuyển nhượng diện tích đất lối đi cho gia đình bà M và bà M cũng không cung cấp được các căn cứ chứng minh gia đình bà nhận chuyển nhượng đất của ông Tiến có diện tích đất lối đi đang tranh chấp nên không có đủ căn cứ xác nhận 22,8m2 đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà M. UBND huyện C, tỉnh Lạng Sơn cấp giấy chứng nhận thửa đất số 257 cho bà M trên cơ sở cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không tiến hành đo đạc và ký giáp ranh của các hộ liền kề; do đó việc ông Tiến và anh Đ cho rằng không biết bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bao gồm cả diện tích lối đi đang tranh chấp là có cơ sở. Tại Công văn số 220/UBND-TNMT ngày 08/3/2019 của UBND huyện C và Bản đồ địa chính xã C năm 2004 đều thể hiện ngoài diện tích đất lối đi đang tranh chấp, bà Tạ Thị M còn một lối đi khác tại phía Tây Bắc thửa đất của bà M tiếp giáp với đường bê tông của thôn Q, xã C. Từ các căn cứ trên cho thấy bà M khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với 22,8m2 đất lối đi đang tranh chấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà M được cấp, nhưng UBND huyện C đã khẳng định việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 257 trong đó có diện tích đất lối đi tranh chấp là không đúng quy định của pháp luật và đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà M nên không có căn cứ xác nhận quyền sử dụng 22,8m2 đất lối đi đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà M. 

Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M về việc yêu cầu anh Hoàng Trung Đ phải tháo dỡ toàn bộ tài sản và các công trình xây dựng trên diện tích 22,8m2 đất thuộc một phần thửa đất số 257, Tờ bản đồ số 8

Bản đồ địa chính xã C đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/11/2009 cho bà M; hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 348522 ngày 16/11/2009 của gia đình bà M đối với diện tích 22,8m2 đất tranh chấp là có căn cứ. Vì vậy, kháng cáo của bà M đề nghị công nhận diện tích 22,8m2 đất đường đi thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà là không có cơ sở chấp nhận. 

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà M không được chấp nhận nên bà M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Tạ Thị M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 163, 164, 166 Bộ luật dân sự; Điều 64, khoản 5 Điều 166; khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai năm 2013;

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Tạ Thị M về việc yêu cầu anh Hoàng Trung Đ phải tháo dỡ toàn bộ tài sản và các công trình xây dựng trên đất tranh chấp 22,8m2, thuộc một phần thửa đất số 257, Tờ bản đồ số 8, bản đồ địa chính xã C đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 348522 ngày 16/11/2009 cho gia đình bà Tạ Thị M vì không có căn cứ.

2. Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 348522 ngày 16/11/2009 của gia đình bà Tạ Thị M đối với phần diện tích đất tranh chấp 22,8m2 (có sơ họa kèm theo). Anh Hoàng Trung Đ có quyền và nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Buộc gia đình bà Tạ Thị M phải chấm dứt việc tranh chấp quyền quản lý sử dụng 22,8m2 đất đối với gia đình anh Hoàng Trung Đ.

Về án phí: Bà Tạ Thị M phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền số AA/2015/0000549 ngày 08/10/2018 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.

Bà Tạ Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.507.100đ; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu số AA/2011/03143 ngày 16/10/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Bà M còn phải nộp tiếp án phí dân sự sơ thẩm là 1.207.100đ (Một triêu, hai trăm linh bẩy nghìn, một trăm đồng).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người bị thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

(Theo Tòa Án Nhân Dân Việt Nam)

 

 

Khuyến cáo:

  • Bài viết không phải lời khuyên tư vấn tài chính - đầu tư chính xác 100%. Bài viết cố gắng mang đến nhiều thông tin đa chiều nhất có thể từ quý độc giả. Quý Anh/Chị trước khi đầu tư xin cân nhắc thật kỹ.
  • Chúng tôi không chịu trách nhiệm trước mọi tình huống không mong muốn liên quan đến bài viết (nếu có).

Mọi bài viết - ý kiến đóng góp chân thành xin gửi về cho chúng tôi qua Email: chodat.com.vn0@gmail.com

Xin cảm ơn quý Anh/Chị độc giả.

 

 

 

Liên hệ

0901231679

chodat.com.vn0@gmail.com

Park 1, Vinhomes Central Park, 208 Nguyễn Hữu Cảnh, phường 22, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh.

Anh/Chị cần tư vấn? Chỉ cần để lại câu hỏi cho chúng tôi !

Để nhận thông tin tư vấn chi tiết qua điện thoại hoặc email, vui lòng điền vào thông tin dưới đây, chúng tôi sẽ liên hệ lại ngay !

Tư vấn Đầu tư BĐS
0901231679