Chuẩn bị để cuộc gặp có giá trị
Làm rõ sản phẩm, năng lực cung ứng và mục tiêu thị trường; chuẩn bị thông tin giúp người mua đánh giá mức phù hợp.
VIỆT NAM ↔ LIÊN BANG NGA
CHODAT INVEST đồng hành cùng doanh nghiệp Việt từ chuẩn bị sản phẩm, kết nối người mua đến làm rõ điều kiện giao dịch và kế hoạch triển khai. Mỗi cuộc trao đổi, mỗi chuyến khảo sát 7–14 ngày là một bước có mục tiêu trên hành trình hướng tới thương vụ xuất khẩu thành công.
TỪ SẢN PHẨM ĐẾN CUỘC GẶP CÓ GIÁ TRỊ

PHẠM VI DỰ KIẾN · LỊCH XÁC NHẬN TRƯỚC THỰC HIỆN
Phạm vi dự kiến: 40 doanh nghiệp tiếp cận ban đầu, 7 gặp trực tuyến, 5–10 gặp trực tiếp; lịch xác nhận trước thực hiện. Không phải số khách hàng đã đặt mua.
NHÌN THẤY GIÁ TRỊ TRƯỚC KHI BẮT ĐẦU
Doanh nghiệp cần nhiều hơn một danh sách đối tác: cần biết nên gặp ai, chuẩn bị gì, kiểm chứng điều gì và làm gì sau cuộc gặp. Giá trị dịch vụ được thể hiện bằng công việc, đầu ra và bước tiến của doanh nghiệp qua từng chặng.
Làm rõ sản phẩm, năng lực cung ứng và mục tiêu thị trường; chuẩn bị thông tin giúp người mua đánh giá mức phù hợp.
Trao đổi nhu cầu, quy cách, giá và điều kiện hợp tác; ghi nhận điểm phù hợp cùng những việc cần xác minh.
Tổng hợp sau cuộc gặp, xác định việc cần làm, người phụ trách và mốc xử lý; thống nhất phạm vi hỗ trợ để tiến tới đàm phán và triển khai.
Minh họa cách ghi nhận. Đầu ra và cách bàn giao được xác nhận trong phương án dịch vụ.
Xem bản mẫuGhi nhận nhóm sản phẩm quan tâm, yêu cầu mẫu và những điều kiện cần làm rõ.
Đối chiếu quy cách, bao bì và cách tiếp cận từng nhóm khách hàng.
Sắp xếp thông tin theo ưu tiên, người phụ trách và mốc phản hồi dự kiến.
Đích đến là một thương vụ doanh nghiệp có thể thực hiện và phát triển lâu dài. Mỗi chặng cần có đầu ra rõ để quyết định đi tiếp, bổ sung hay điều chỉnh.
Chọn sản phẩm, nhóm người mua và mục tiêu phù hợp với năng lực doanh nghiệp.
Đầu ra cần thống nhấtĐịnh hướng thị trường và danh mục việc ưu tiên.Rà hồ sơ giới thiệu, mẫu, quy cách, bảng giá và những điều kiện còn thiếu.
Đầu ra cần thống nhấtBộ thông tin sản phẩm cùng danh sách cần hoàn thiện.Tổ chức trao đổi trực tuyến; khảo sát và gặp trực tiếp theo phương án đã xác nhận.
Đầu ra cần thống nhấtGhi nhận nhu cầu, phản hồi và mức phù hợp của đối tác.Làm rõ đầu mối nhập khẩu, hồ sơ, logistics và khả năng thanh toán với bên chuyên môn.
Đầu ra cần thống nhấtCác điều kiện cần xác nhận trước khi chào bán hoặc giao hàng.Hỗ trợ trao đổi các điểm thương mại còn mở và phối hợp chuyên gia theo nhu cầu.
Đầu ra cần thống nhấtDanh sách điều khoản, trách nhiệm và việc cần chốt.Theo dõi các bước sau kết nối; thống nhất cách phối hợp cho đơn hàng và cơ hội tiếp theo.
Đầu ra cần thống nhấtKế hoạch thực hiện có người phụ trách và mốc theo dõi.CHODAT cùng doanh nghiệp hướng tới thương vụ thành công; việc ký kết và thực hiện phụ thuộc các bên, sản phẩm và điều kiện giao dịch. Đầu ra, thời gian đồng hành, trách nhiệm và hỗ trợ sau kết nối được xác nhận trong hợp đồng; các chặng không đồng nghĩa đã bao gồm mọi dịch vụ chuyên môn hoặc bảo đảm có đơn hàng.
Trao đổi hành trình cho doanh nghiệpSẢN PHẨM VIỆT · CƠ HỘI QUỐC TẾ
Mỗi nhóm hàng cần một cách mở đầu phù hợp. Chọn sản phẩm để xem hướng trao đổi và những thông tin nên chuẩn bị.

Quy cách, chất lượng lô và nhóm người mua mong muốn.
Trao đổi nhóm hàng này ↗
Thành phần, cách sử dụng, hạn dùng và điều kiện bảo quản.
Trao đổi nhóm hàng này ↗
Vật liệu, độ hoàn thiện, đóng kiện và khả năng cung ứng.
Trao đổi nhóm hàng này ↗
Kích cỡ, vật liệu, thời gian làm mẫu và phương án thương hiệu.
Trao đổi nhóm hàng này ↗
Đối tượng sử dụng, giá chào và kênh phân phối dự kiến.
Trao đổi nhóm hàng này ↗
Thông số kỹ thuật, tiêu chí kiểm tra và năng lực cung ứng ổn định.
Trao đổi nhóm hàng này ↗CHUẨN BỊ Ở VIỆT NAM · LÀM VIỆC SÂU TẠI NGA
Chuẩn bị đúng thông tin, trao đổi đúng đối tác, thống nhất bước đi tiếp theo.



KHẢO SÁT THỊ TRƯỜNG · KẾT NỐI ĐỐI TÁC
Một chuyến đi đáng đầu tư cần mang về thông tin để ra quyết định: sản phẩm, kênh bán, giá và điều kiện thực hiện. Chọn thời lượng phù hợp với những điều doanh nghiệp cần làm rõ.
Gặp đối tác phù hợp, kiểm tra nhóm hàng chủ lực và xác định bước đi tiếp theo.
Thêm thời gian khảo sát điểm bán, tìm hiểu phân phối, logistics và gặp lại đối tác ưu tiên.
Nghiên cứu kỹ hơn tại Moscow; cân nhắc Saint Petersburg khi có mục tiêu và lịch làm việc phù hợp.
Khung hành trình tính cả đi và về; lịch bay, ngày làm việc và địa điểm được xác nhận trước khi chốt. Thêm ngày không tự tăng số cuộc gặp hoặc tạo phí dịch vụ mới.
LỰA CHỌN PHÙ HỢP VỚI DOANH NGHIỆP
Giai đoạn 2 nằm trong gói kết nối trực tuyến của giai đoạn 1.
Phí dịch vụ gắn với công việc, đầu ra và trách nhiệm được thống nhất: giúp doanh nghiệp hiểu cơ hội, chuẩn bị tốt hơn, duy trì trao đổi đúng mục tiêu và xử lý bước tiếp theo để tiến tới thương vụ.
Xem các chặng đồng hành ↗GIAI ĐOẠN 1 · BAO GỒM GIAI ĐOẠN 2
GIAI ĐOẠN 3 · PHÍ BỔ SUNG
Thuế, số đại biểu, vé máy bay, lưu trú, visa, bảo hiểm và phiên dịch trực tiếp được làm rõ trong báo giá chính thức.
Xem ảnh lớn ↗
Phí dịch vụ đã chốt; thuế và khoản ngoài phạm vi được xác nhận trong báo giá.
Tải ảnh báo cáo ↓LỰA CHỌN PHÙ HỢP · CHUẨN BỊ ĐỂ ĐI XA
Hội chợ, đoàn xúc tiến, tự tìm kiếm và tư vấn đồng hành phục vụ những mục tiêu khác nhau. So sánh cùng phạm vi công việc, nguồn lực và cách theo đuổi cơ hội sau lần gặp đầu.
| Phương án | Phù hợp khi doanh nghiệp cần | Phạm vi cần kiểm tra |
|---|---|---|
| CHODAT INVEST — tư vấn đồng hành | Một lộ trình từ chuẩn bị, kết nối tới làm rõ điều kiện thương vụ; có đầu mối phối hợp theo phạm vi đã ký. | Đầu ra từng chặng, tiêu chí đối tác, cách bàn giao, thời gian theo dõi và những hạng mục ngoài dịch vụ. |
| Hội chợ chuyên ngành | Giới thiệu sản phẩm và gặp nhiều đầu mối trong một sự kiện phù hợp ngành hàng. | Gian hàng, mẫu, nhân sự, lịch hẹn và nguồn lực sàng lọc, theo đuổi liên hệ sau sự kiện. |
| Đoàn xúc tiến thương mại | Khảo sát và kết nối theo chủ đề, địa bàn và lịch chung của đơn vị tổ chức. | Ngành hàng, tiêu chí ghép nối, phần hỗ trợ riêng và trách nhiệm xử lý sau đoàn. |
| Tự tìm kiếm đối tác | Chủ động mục tiêu, nội dung tiếp cận và tiến độ với đội ngũ nội bộ sẵn có. | Nhân lực, ngôn ngữ, dữ liệu, xác minh người mua và khả năng duy trì trao đổi đến giao dịch. |
So sánh định tính để lựa chọn theo nhu cầu; các phương án có thể kết hợp. Không dùng chi phí thị trường hoặc tỷ lệ thành công chưa được xác minh để kết luận phương án nào luôn rẻ hơn hay hiệu quả hơn.
Từ cơ hội quan tâm đến khả năng thực hiện: cùng kiểm tra những điều có thể quyết định tiến độ, chi phí và dòng tiền.
Xác định hồ sơ theo sản phẩm; chuẩn bị C/O EAV, điều kiện lưu thông và cách xử lý khi cần xác minh.
Đọc hướng dẫn thực hành02 ↗Đối chiếu hợp đồng, hóa đơn, vận đơn, hồ sơ xuất xứ và yêu cầu của thư tín dụng khi áp dụng.
Đọc hướng dẫn thực hành03 ↗So cùng điểm nhận, điều kiện giao hàng, thời hạn báo giá và các khoản phát sinh.
Đọc hướng dẫn thực hành04 ↗Làm rõ ngân hàng, quyền ký, bất khả kháng và cách giải quyết tranh chấp trước khi giao hàng.
Đọc hướng dẫn thực hànhBẮT ĐẦU TỪ SẢN PHẨM CỦA ANH/CHỊ
Bắt đầu từ sản phẩm, đối tác muốn tìm và những điều anh/chị cần làm rõ. CHODAT sẽ cùng xác định phạm vi phù hợp.

Đăng ký trực tiếp · Không cần tài khoản
CẨM NANG DÀNH CHO DOANH NGHIỆP
Từ cơ hội ngành hàng, điều kiện xuất khẩu đến bài toán ngân sách và cách tổ chức khảo sát. Chọn chủ đề doanh nghiệp đang cần tìm hiểu.
Ảnh và báo cáo bên cạnh nội dung giúp đối chiếu từng vấn đề trong thực tế.
Một thị trường mới thường bắt đầu bằng nhiều câu hỏi. Sản phẩm của mình có phù hợp không? Ai thực sự có khả năng nhập hàng? Giá bán nào còn dư địa cho nhà phân phối? Và nên gặp đối tác trực tuyến trước, hay đầu tư ngay một chuyến công tác?
CHODAT INVEST cùng doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị từng bước cho hành trình xuất khẩu sang Nga: làm rõ sản phẩm, xác định nhóm đối tác cần tiếp cận, tổ chức trao đổi trực tuyến và xây dựng chương trình gặp gỡ tại Moscow khi điều kiện đã phù hợp. Mục tiêu là giúp doanh nghiệp bước vào cuộc trao đổi với một hồ sơ rõ ràng, một mức giá có cơ sở và những câu hỏi đủ cụ thể để đi tiếp.
Doanh nghiệp có thể bắt đầu với gói kết nối trực tuyến, phí 99,9 triệu đồng/doanh nghiệp, bao gồm công việc của giai đoạn 1 và giai đoạn 2. Chương trình trực tiếp tại Moscow thuộc giai đoạn 3, có phí bổ sung 379 triệu đồng/doanh nghiệp. Khi lựa chọn cả hai phần, tổng phí dịch vụ là 478,9 triệu đồng/doanh nghiệp. Thuế và các khoản chi liên quan được thể hiện trong báo giá chính thức.
Đăng ký trực tiếp, không cần tạo tài khoản. Hãy bắt đầu bằng sản phẩm anh/chị đang muốn đưa ra thị trường; những thông tin còn lại có thể được làm rõ trong buổi tư vấn.
Một danh sách doanh nghiệp chỉ thực sự hữu ích khi anh/chị biết vì sao họ phù hợp. Họ nhập hàng để bán lẻ, phân phối lại, phục vụ nhà hàng hay đưa vào sản xuất? Họ cần thương hiệu riêng hay muốn tìm nhà máy gia công? Họ đang tìm giá thấp nhất, sự ổn định của nguồn hàng, hay một dòng sản phẩm có điểm khác biệt?
Đó là lý do chương trình kết nối bắt đầu từ tiêu chí của doanh nghiệp Việt Nam. Thay vì gửi cùng một bộ giới thiệu cho mọi nơi, cần chọn cách trình bày tương ứng với người nhận: nhà nhập khẩu cần hồ sơ thương mại; đơn vị bán lẻ quan tâm khả năng lên kệ; khách hàng công nghiệp cần quy cách, năng lực và độ ổn định giữa các lô hàng. Cùng một sản phẩm, cách mở đầu đúng có thể giúp cuộc trao đổi đi sâu hơn.
Phạm vi chương trình dự kiến gồm danh sách tiếp cận ban đầu 40 doanh nghiệp Nga, 7 cuộc gặp B2B trực tuyến có điều phối và phiên dịch trực tuyến, cùng 5–10 cuộc gặp trực tiếp tại Moscow trong chương trình tại Nga. Chuyến khảo sát được thiết kế theo ba lựa chọn 7, 10 hoặc 14 ngày, để doanh nghiệp có thời gian tìm hiểu điểm bán, kênh phân phối và điều kiện đưa hàng vào thị trường. Thời lượng được tính theo khung hành trình đi và về; lịch bay thực tế được xác nhận khi lập phương án. Danh sách ban đầu không đồng nghĩa với 40 khách hàng đã xác nhận nhu cầu mua; lịch gặp cụ thể được xác nhận trước khi thực hiện.
Điều doanh nghiệp cần mang về sau mỗi cuộc gặp là thông tin có thể dùng để ra quyết định. Đối tác đang cần sản phẩm nào? Quy cách nào được chấp nhận? Hồ sơ nào cần bổ sung? Có cần gửi mẫu không? Ai là người phản hồi và hai bên thống nhất trao đổi lại vào thời điểm nào? Một cuộc gặp có giá trị phải giúp những câu hỏi này trở nên rõ hơn.
CHODAT hỗ trợ kết nối theo phạm vi thống nhất với doanh nghiệp. Việc chấp thuận mẫu, ký hợp đồng, đặt hàng, thanh toán và các điều kiện mua bán do các bên giao dịch quyết định. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp đánh giá cơ hội bằng thông tin cụ thể, đồng thời chủ động lựa chọn mức đầu tư phù hợp với năng lực của mình.
Lựa chọn này phù hợp với doanh nghiệp muốn kiểm tra mức độ quan tâm của đối tác trước khi quyết định sang Nga. Công việc bắt đầu bằng việc làm rõ sản phẩm chủ lực, mức giá chào dự kiến, năng lực cung ứng, tiêu chí khách hàng và những điều kiện doanh nghiệp có thể đáp ứng. Từ đó, chương trình xây dựng danh sách tiếp cận ban đầu và tổ chức các cuộc trao đổi phù hợp.
Gói giai đoạn 1 bao gồm bước gặp trực tuyến của giai đoạn 2 theo cấu trúc chương trình. Vì vậy, khoản 99,9 triệu đồng không được hiểu là phí riêng cho một danh sách liên hệ rồi thu thêm một mức phí khác cho 7 cuộc gặp trực tuyến. Báo giá sẽ mô tả đầu việc, hồ sơ doanh nghiệp cần cung cấp, cách xác nhận lịch và căn cứ nghiệm thu để hai bên cùng theo dõi.
Khi gặp trực tuyến, doanh nghiệp nên chọn một số sản phẩm đủ sức cạnh tranh để giới thiệu trước. Một danh mục ngắn nhưng có giá, quy cách và khả năng cung ứng rõ ràng thường dễ trao đổi hơn một tập tài liệu rất dày. Người tham gia cần có khả năng trả lời câu hỏi về sản phẩm và ghi nhận những vấn đề phải xin ý kiến thêm từ nhà máy hoặc ban lãnh đạo.
Kết quả của bước này là cơ sở để doanh nghiệp chọn hướng đi tiếp: hoàn thiện sản phẩm, gửi mẫu, điều chỉnh giá chào, ưu tiên một nhóm đối tác hoặc chuẩn bị chương trình gặp trực tiếp. Nếu những điều kiện nền tảng chưa phù hợp, doanh nghiệp vẫn có thể sử dụng phản hồi để sửa kế hoạch trước khi phát sinh một ngân sách lớn hơn.
Giai đoạn trực tiếp dành cho doanh nghiệp đã xác định được mục tiêu làm việc tại Nga và có khả năng chuẩn bị hồ sơ, sản phẩm, nhân sự phù hợp. Chương trình dự kiến tổ chức 5–10 cuộc gặp theo lịch xác nhận, kết hợp chuyến khảo sát khoảng 7–14 ngày. Đại diện doanh nghiệp có thể giới thiệu mẫu, tìm hiểu cách hàng hóa được phân phối, trao đổi sâu về yêu cầu mua hàng và thống nhất những việc cần thực hiện sau chuyến công tác.
Phương án 7 ngày giúp tập trung vào Moscow và những câu hỏi quan trọng nhất. Phương án 10 ngày có thêm khoảng trống để khảo sát kênh bán, kiểm tra phương án logistics và gặp lại đối tác cần trao đổi sâu. Phương án 14 ngày phù hợp với doanh nghiệp muốn nghiên cứu kỹ hơn một nhóm hàng hoặc cân nhắc thêm một địa bàn; thành phố thứ hai chỉ được đưa vào lịch khi có mục tiêu và lịch làm việc phù hợp. Các hoạt động giao lưu được bố trí hỗ trợ quan hệ thương mại, không lấn thời gian khảo sát.
Phí 379 triệu đồng là khoản bổ sung cho dịch vụ giai đoạn 3. Phương án công việc theo thời lượng 7, 10 hoặc 14 ngày được mô tả trong báo giá; việc thêm ngày hoặc địa bàn không tự tạo một khoản thu chưa được thỏa thuận. Số đại biểu, vé máy bay, khách sạn, visa, bảo hiểm, vận chuyển mẫu, phiên dịch trực tiếp và các khoản ngoài phạm vi phải được làm rõ trước khi chốt. Doanh nghiệp nên đọc phần bao gồm và chưa bao gồm cùng lịch trình để lập đúng tổng ngân sách của chuyến đi.
Doanh nghiệp có sản phẩm đủ điều kiện, nguồn lực triển khai và mục tiêu phát triển thị trường rõ ràng có thể xem xét toàn bộ lộ trình với tổng phí dịch vụ 478,9 triệu đồng/doanh nghiệp. Tuy nhiên, quyết định đầu tư nên dựa trên khả năng thực hiện sau cuộc gặp: ai xử lý mẫu, ai chốt báo giá, ai chịu trách nhiệm hồ sơ và ngân sách cho lô hàng đầu tiên đã sẵn sàng đến đâu.
Nếu doanh nghiệp mới nghiên cứu, bắt đầu từ trực tuyến là một lựa chọn hợp lý để thu thập phản hồi. Nếu đã có kinh nghiệm xuất khẩu và muốn tìm thêm kênh phân phối, cuộc trao đổi ban đầu có thể đi thẳng vào phân khúc, vùng thị trường và yêu cầu của đối tác. CHODAT sẽ cùng doanh nghiệp làm rõ nhu cầu trước khi đề xuất phạm vi phù hợp.
Mục tiêu CHODAT INVEST cùng doanh nghiệp hướng tới là thương vụ xuất khẩu thành công và khả năng phát triển quan hệ thương mại lâu dài. Công việc bắt đầu trước cuộc gặp: làm rõ sản phẩm, thị trường, năng lực cung ứng và điều kiện còn thiếu. Sau kết nối, điều quan trọng là chuyển phản hồi của người mua thành việc cụ thể để cơ hội tiếp tục được xử lý.
Một hành trình có giá trị cần trả lời được: đối tác quan tâm sản phẩm nào; yêu cầu nào đã rõ; việc gì còn phải kiểm chứng; ai phụ trách và khi nào trao đổi tiếp. Kết quả có thể là tiến tới đàm phán, thử mẫu hoặc đơn hàng thử; cũng có thể là điều chỉnh quy cách, kênh bán hoặc thời điểm vào thị trường trước khi chi thêm ngân sách.
Doanh nghiệp và CHODAT thống nhất đầu ra, cách bàn giao, thời gian theo dõi cùng ranh giới trách nhiệm trong phương án dịch vụ. Hỗ trợ chuyên sâu về hợp đồng, chứng nhận, vận tải hoặc thực hiện đơn hàng được xác nhận theo nhu cầu và phạm vi đã ký. Đây là cách đánh giá giá trị đồng hành bằng tiến độ và chất lượng quyết định, đồng thời phân biệt mục tiêu thương vụ với cam kết chắc chắn có đơn hàng.
Nga thường được nhắc đến như một thị trường lớn, nhưng một doanh nghiệp không bán hàng cho cả thị trường cùng lúc. Doanh nghiệp bán cho một nhóm khách cụ thể, thông qua một kênh cụ thể, ở một mức giá cụ thể. Cơ hội vì thế cần được nhìn từ sản phẩm và người mua, thay vì chỉ dừng ở quy mô địa lý hay những nhận định chung về sức mua.
Theo thông tin công bố trên AsemconnectVietnam ngày 17/6/2026, dẫn số liệu Hải quan Việt Nam, thương mại song phương năm 2025 đạt khoảng 4,77 tỷ USD; Việt Nam xuất khẩu sang Nga gần 2,26 tỷ USD và nhập khẩu khoảng 2,51 tỷ USD. Tổng thương mại tăng khoảng 4%, trong khi xuất khẩu của Việt Nam giảm nhẹ 3,2%. Những con số này cho thấy quan hệ mua bán đã có nền tảng thực tế, đồng thời nhắc doanh nghiệp rằng tăng trưởng chung không đồng nghĩa mọi nhóm hàng đều dễ bán. [1]
Với một nhà sản xuất, cách đọc hữu ích hơn là đặt câu hỏi: sản phẩm của mình sẽ thay thế lựa chọn nào đang có trên thị trường? Có thể mang lại chất lượng ổn định hơn, quy cách phù hợp hơn, thời gian giao hợp lý hơn hay một câu chuyện thương hiệu thuyết phục hơn? Nếu chưa trả lời được, việc mở rộng thêm danh sách liên hệ chưa chắc tạo ra nhiều cơ hội thương mại hơn.
Những nhóm hàng Việt Nam đã có hoạt động xuất khẩu sang Nga gồm cà phê, hạt điều, hạt tiêu, dệt may, thủy sản và sản phẩm điện tử. Ở chiều ngược lại, Nga cung cấp nhiều nhóm nguyên liệu và đầu vào sản xuất cho Việt Nam. Đây là cơ sở để doanh nghiệp nghiên cứu các mối quan hệ mua bán có tính bổ trợ, nhưng sức hấp dẫn cuối cùng vẫn phụ thuộc vào từng mã hàng, nhà cung cấp và kênh phân phối. [1]
Đối với doanh nghiệp Việt, lợi thế có thể đến từ việc hiểu sâu một sản phẩm mình làm tốt. Một cơ sở chế biến hạt điều có thể tập trung vào độ đồng đều, tỷ lệ vỡ, gia vị, bao bì và thời hạn bảo quản. Một nhà máy nội thất có thể cạnh tranh bằng khả năng hoàn thiện theo thiết kế, chất lượng đóng gói và lịch giao ổn định. Những yếu tố ấy có giá trị rõ hơn những lời giới thiệu quá rộng về năng lực cung cấp mọi mặt hàng.
Moscow phù hợp để tổ chức chương trình gặp gỡ trong phạm vi dịch vụ này. Tuy nhiên, địa điểm của cuộc gặp không tự quyết định nơi hàng hóa sẽ được bán. Một doanh nghiệp đặt văn phòng tại Moscow có thể phân phối ở các vùng khác; ngược lại, một nhà mua hàng tại địa phương có thể không có nhu cầu nhập khẩu trực tiếp.
Vì vậy, khi tìm đối tác Nga, doanh nghiệp nên hỏi về vùng bán hàng, kho nhận hàng, kênh khách hàng cuối và kinh nghiệm với sản phẩm tương tự. Nếu đối tác chỉ phục vụ một thành phố, kế hoạch sản lượng sẽ khác với trường hợp họ có hệ thống phân phối nhiều vùng. Một danh sách phù hợp phải phản ánh sự khác biệt này, thay vì chỉ xếp doanh nghiệp theo địa chỉ trụ sở.
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á – Âu được ký ngày 29/5/2015, có hiệu lực từ ngày 05/10/2016. Đây là một cơ sở quan trọng để nghiên cứu ưu đãi cho hàng hóa đủ điều kiện khi xuất khẩu vào các thị trường thành viên, trong đó có Nga. [2]
Lợi thế này nên được chuyển thành một bài toán giá có thể kiểm chứng. Doanh nghiệp cần xác định mã HS, biểu thuế đang áp dụng, quy tắc xuất xứ và bộ chứng từ phù hợp. Một mức thuế nhập khẩu thuận lợi có thể cải thiện giá đến tay nhà nhập khẩu, nhưng không tự giải quyết chi phí vận tải, yêu cầu kỹ thuật, ngân sách phân phối hay tốc độ tiêu thụ.
Doanh nghiệp không nhất thiết phải bắt đầu bằng một kế hoạch phủ thị trường trên diện rộng. Một nhóm sản phẩm phù hợp, một đối tác có năng lực thực tế và một quy trình xử lý đơn hàng được chuẩn bị tốt có thể là điểm khởi đầu vừa sức. Sau giai đoạn thử, doanh nghiệp mới có dữ liệu để quyết định tăng danh mục hay mở thêm địa bàn.
Điều đáng cân nhắc là chất lượng của thông tin thu được ở mỗi bước. Phản hồi về khẩu vị, kích cỡ, độ bền bao bì hoặc chu kỳ đặt hàng có thể giúp doanh nghiệp tránh một quyết định sản xuất quá sớm. Chương trình kết nối có ý nghĩa khi biến sự quan tâm tới thị trường Nga thành những đầu việc cụ thể có người chịu trách nhiệm.
Khoảng cách vận chuyển, yêu cầu hồ sơ, khác biệt ngôn ngữ, khả năng thanh toán và chi phí đưa hàng vào kênh bán đều có thể ảnh hưởng đến hiệu quả. Doanh nghiệp nên xem đây là những biến số cần tính từ đầu. Một mức giá tại nhà máy có vẻ cạnh tranh vẫn có thể mất lợi thế khi cộng thêm giao nhận, kiểm nghiệm, nhãn, tồn kho và chiết khấu phân phối.
Một kế hoạch tốt vì thế cần trả lời cả hai mặt: lý do sản phẩm có thể được chọn và điều kiện để doanh nghiệp cung cấp đúng cam kết. Khi hai phần này đã rõ, việc tiếp cận thị trường trở nên có cơ sở hơn. Doanh nghiệp sẽ biết nên đầu tư vào kết nối, hoàn thiện sản phẩm hay tổ chức lại năng lực phục vụ trước.
Lợi thế của một doanh nghiệp không nằm trong một câu khẳng định rằng hàng Việt luôn rẻ hoặc luôn tốt. Người mua cần nhìn thấy những gì nhà cung cấp thực sự làm được: sản lượng theo tháng, phạm vi quy cách, phương thức kiểm soát chất lượng, thời gian chuẩn bị hàng và khả năng xử lý khi phát sinh vấn đề.
Doanh nghiệp nên chọn ba đến năm điểm mạnh có hồ sơ đi kèm. Chẳng hạn, nếu nói chất lượng ổn định, hãy chuẩn bị cách kiểm soát chỉ tiêu giữa các lô. Nếu nói có thể phát triển bao bì riêng, hãy làm rõ số lượng đặt tối thiểu, thời gian thiết kế, quy trình duyệt mẫu và ai sở hữu nội dung nhãn. Một điểm mạnh được giải thích đầy đủ sẽ đáng tin hơn nhiều lời quảng bá chung.
Doanh nghiệp đã xuất khẩu có thể tận dụng kinh nghiệm về sản xuất theo đơn, kiểm tra chất lượng và phối hợp giao nhận. Tuy nhiên, việc từng bán ở một thị trường khác không có nghĩa sản phẩm tự động đáp ứng quy định của Nga. Hồ sơ cho cuộc gặp cần phân biệt rõ kinh nghiệm đã có với các yêu cầu đang được rà soát cho thị trường mới.
Nếu được phép chia sẻ, doanh nghiệp có thể trình bày ảnh dây chuyền, mẫu báo cáo kiểm tra và các chứng nhận còn hiệu lực, đúng chủ thể, đúng phạm vi. Không nên sử dụng logo khách hàng hoặc tài liệu của đối tác cũ khi chưa được chấp thuận. Cách giới thiệu có chọn lọc vừa bảo vệ quan hệ hiện hữu, vừa giúp người mua mới đánh giá năng lực một cách nghiêm túc.
Nhiều cuộc trao đổi thương mại đi đến câu hỏi về điều chỉnh sản phẩm. Có thể thay kích cỡ gói không? Có thể đổi màu, bổ sung phụ kiện, giảm độ ngọt hoặc thay định lượng không? Nếu doanh nghiệp trả lời quá nhanh để giữ sự quan tâm, phần việc khó thường sẽ chuyển về nhà máy sau đó.
Trước khi gặp đối tác, nên xác định phạm vi có thể tùy chỉnh và phần cần kiểm tra thêm. Mỗi thay đổi có thể ảnh hưởng giá, số lượng tối thiểu, thời gian sản xuất hoặc hồ sơ kỹ thuật. Một câu trả lời rõ rằng doanh nghiệp sẽ kiểm tra và phản hồi vào ngày cụ thể thường có giá trị hơn một lời đồng ý chưa có căn cứ.
Khi giới thiệu lợi thế giá, doanh nghiệp cần nói rõ đơn vị tính, loại bao bì, điều kiện giao, thời hạn hiệu lực và các yếu tố chưa bao gồm. Một mức giá cho bao lớn dùng trong chế biến không thể đem so trực tiếp với giá túi bán lẻ có nhãn riêng. Tương tự, giá giao cho người chuyên chở tại Việt Nam khác với giá đã bao gồm một phần vận tải quốc tế.
Doanh nghiệp nên xây dựng một bảng chào giá đủ ngắn để đối tác dễ đọc nhưng có các điều kiện thiết yếu. Điều đó giúp hai bên so sánh cùng một cơ sở, giảm thời gian trao đổi lại và tránh hiểu nhầm rằng mức giá ban đầu đã bao gồm mọi dịch vụ phát sinh.
Nguồn gốc Việt Nam có thể tạo điểm nhận diện cho sản phẩm, nhưng câu chuyện nên đi cùng điều người mua nhận được. Với thực phẩm, đó có thể là hương vị, cách dùng và chất lượng ổn định. Với đồ gỗ, đó có thể là thiết kế, vật liệu và mức hoàn thiện. Với hàng tiêu dùng, đó có thể là sự tiện dụng và khả năng duy trì nguồn hàng.
Một lời giới thiệu có sức hút thường bắt đầu từ trải nghiệm cụ thể: sản phẩm dành cho ai, giải quyết nhu cầu nào và vì sao phù hợp với kênh bán đang trao đổi. Những chi tiết ấy giúp thương hiệu Việt xuất hiện như một lựa chọn có lý do, thay vì chỉ là một xuất xứ cần được ủng hộ.
Các nhóm dưới đây là hướng trao đổi để doanh nghiệp xác định nhu cầu kết nối. Đây không phải danh sách mặt hàng chắc chắn bán được, cũng không thay thế việc rà soát điều kiện nhập khẩu của từng sản phẩm. Doanh nghiệp nên chọn sản phẩm chủ lực và một kênh tiêu thụ cụ thể trước khi mở rộng phạm vi.
Một doanh nghiệp cà phê có thể tiếp cận nhà rang xay, đơn vị nhập nguyên liệu hoặc nhà phân phối sản phẩm đóng gói. Ba nhóm khách này thường cần những bộ thông tin khác nhau. Nhà rang xay cần trao đổi về nguyên liệu và chất lượng lô; nhà phân phối thương hiệu cần xem bao bì, định vị, giá và khả năng triển khai bán hàng.
Với hạt điều hoặc hạt tiêu, doanh nghiệp nên chuẩn bị quy cách sản phẩm, chỉ tiêu chất lượng, cách đóng gói và điều kiện bảo quản. Nếu có nhiều lựa chọn, hãy chọn vài mẫu dễ so sánh. Việc giới thiệu cùng lúc quá nhiều cấp chất lượng nhưng không nêu khác biệt về giá và mục đích sử dụng có thể khiến người mua khó lựa chọn.
Một hướng thử có thể là bắt đầu từ quy cách phù hợp với khách hàng chế biến hoặc đóng gói. Một hướng khác là phát triển sản phẩm bán lẻ mang thương hiệu doanh nghiệp. Hai hướng này cần ngân sách và năng lực hỗ trợ khác nhau; nên được quyết định trước khi thiết kế hồ sơ giới thiệu và lập danh sách đối tác.
Doanh nghiệp có sản phẩm chế biến cần làm rõ cách sử dụng, khẩu vị, thành phần, thời hạn bảo quản và yêu cầu vận chuyển. Một món ăn quen thuộc với người Việt có thể cần được giải thích lại cho người mua chưa từng sử dụng. Hình ảnh thành phẩm, gợi ý sử dụng và hướng dẫn trình bày có thể giúp cuộc trao đổi dễ hiểu hơn.
Nếu muốn phát triển nhãn hàng riêng cho đối tác, cần xác định ai duyệt công thức, ai chịu trách nhiệm nội dung nhãn và những thay đổi nào có thể thực hiện ở từng mức sản lượng. Mẫu dùng để giới thiệu cần đại diện cho sản phẩm doanh nghiệp thực sự cung cấp, tránh tình trạng mẫu rất tốt nhưng sản xuất hàng loạt lại khác.
Sản phẩm có thành phần đặc thù, công dụng đặc biệt hoặc thuộc nhóm quản lý riêng phải được rà soát kỹ trước khi chào bán. Việc chọn đúng kênh và chuẩn bị thông tin từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp tránh đầu tư vào bao bì, mẫu hoặc lịch gặp khi điều kiện thị trường chưa được làm rõ.
Với hàng đông lạnh hoặc bảo quản lạnh, giá bán chỉ là một phần của cuộc trao đổi. Người mua còn cần hiểu quy cách, mức độ chế biến, điều kiện bảo quản, khả năng truy xuất lô và cách xử lý khi chất lượng không đúng thỏa thuận. Doanh nghiệp nên mang theo bộ thông tin sản phẩm đủ chi tiết để tránh nhầm giữa các cấp chất lượng.
Trước khi tổ chức tiếp cận sâu, cần kiểm tra điều kiện đối với cơ sở sản xuất và phạm vi sản phẩm được phép theo quy định liên quan. Trạng thái của một nhà máy có thể thay đổi; vì vậy, không nên dựa vào một danh sách cũ hoặc suy ra rằng mọi cơ sở của cùng một tập đoàn đều có cùng điều kiện xuất khẩu. Cổng Rosselkhoznadzor có mục thông tin và hệ thống tra cứu liên quan tới Việt Nam để đối chiếu cùng đơn vị chuyên môn. [10]
Một cuộc gặp phù hợp nên có người phụ trách thương mại và khả năng kết nối nhanh với bộ phận chất lượng. Những câu hỏi về nhiệt độ, chứng từ hoặc quy cách không nên bị gác lại quá lâu chỉ vì người tham gia chưa chuẩn bị người trả lời.
Doanh nghiệp nội thất có thể nghiên cứu khách hàng dự án, nhà phân phối, hệ thống cửa hàng hoặc đơn vị phát triển nhãn riêng. Một đối tác dự án có thể ưu tiên thiết kế và tiến độ; nhà phân phối có thể quan tâm đóng gói, lắp ráp, phụ kiện thay thế và khả năng bổ sung hàng theo từng đợt.
Hồ sơ nên cho thấy kích thước, vật liệu, lớp hoàn thiện, ảnh chi tiết và cách đóng kiện. Một hình ảnh đẹp giúp mở đầu, nhưng bản vẽ rõ và mô tả đúng giúp đi đến trao đổi thương mại. Nếu chào sản phẩm dạng tháo lắp, doanh nghiệp nên chuẩn bị hướng dẫn lắp, danh mục phụ kiện và giải pháp khi thiếu một chi tiết.
Nhóm hàng nội thất có quy định kỹ thuật riêng cần đối chiếu, trong đó có TR CU 025/2012 về an toàn sản phẩm nội thất. Phạm vi áp dụng và hình thức đánh giá phải được xác định theo sản phẩm thực tế, không suy ra chỉ từ tên gọi chung là đồ gỗ. [8]
Ở nhóm này, cuộc trao đổi nên bắt đầu bằng đối tượng sử dụng, bảng kích cỡ, vật liệu, khả năng cung ứng và cách kiểm tra chất lượng. Nếu giới thiệu một bộ sưu tập, cần phân biệt hàng sẵn với hàng sản xuất theo đơn. Thời gian làm mẫu và thời gian sản xuất hàng loạt cũng cần được nêu riêng.
Doanh nghiệp nên hỏi rõ đối tác muốn phân phối thương hiệu Việt hay đặt sản phẩm theo thương hiệu của họ. Cách tổ chức tài liệu, thiết kế nhãn, chuẩn bị bao bì và xử lý quyền sở hữu sẽ khác nhau. Những nhóm hàng thuộc diện truy xuất, nhãn hoặc biện pháp thương mại cần được kiểm tra ở thời điểm lập phương án.
TR CU 017/2011 là một trong những quy chuẩn cần xem xét đối với sản phẩm công nghiệp nhẹ thuộc phạm vi điều chỉnh. Hàng trẻ em có thể thuộc quy chuẩn khác; vì vậy, phân loại mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng phải đi trước việc kết luận bộ hồ sơ cần có. [7]
Với sản phẩm dùng trong sản xuất, người mua thường cần bản mô tả kỹ thuật và khả năng đáp ứng ổn định. Doanh nghiệp nên chuẩn bị dung sai, vật liệu, tiêu chuẩn áp dụng, điều kiện kiểm tra và mức sản lượng có thể duy trì. Mỗi thông số nên có đơn vị và phiên bản tài liệu rõ ràng.
Đối tác phù hợp có thể là nhà máy sử dụng trực tiếp, đơn vị tích hợp hoặc nhà phân phối kỹ thuật. Nếu chọn sai nhóm khách, cuộc gặp dễ dừng ở việc trao đổi danh thiếp vì người tham gia không có nhu cầu mua loại sản phẩm đó. Danh sách tiếp cận nên được xây dựng theo vai trò trong chuỗi cung ứng, không chỉ theo tên ngành.
Các sản phẩm có yêu cầu kỹ thuật, kiểm soát xuất khẩu hoặc hạn chế giao dịch cần được rà soát riêng theo đặc tính, người dùng cuối và mục đích sử dụng. Phạm vi kết nối chỉ được triển khai khi điều kiện thực hiện hợp lệ đã được xác định.
Một doanh nghiệp tự giới thiệu là nhà nhập khẩu chưa đủ để kết luận họ phù hợp. Anh/chị cần biết họ đã làm việc với nhóm hàng nào, ai xử lý thủ tục, hàng được nhận ở đâu và khách hàng của họ là ai. Điều cần tìm là sự phù hợp giữa năng lực của đối tác và kế hoạch của mình.
Nếu dự kiến bán hàng đóng gói cho người tiêu dùng, hãy hỏi cách họ phát triển thương hiệu và hỗ trợ điểm bán. Nếu cung cấp nguyên liệu, hãy trao đổi về quy cách kiểm tra, khối lượng mỗi đợt và chu kỳ dự kiến. Một đối tác mạnh ở một nhóm sản phẩm chưa chắc phù hợp với mọi sản phẩm khác.
Nhà phân phối có thể bán cho hệ thống cửa hàng, khách hàng doanh nghiệp hoặc các đơn vị phân phối nhỏ hơn. Từng mô hình đòi hỏi cấu trúc giá khác nhau. Doanh nghiệp cần biết giá mình chào sẽ được cộng thêm những khoản nào trước khi đến người mua cuối.
Trong giai đoạn tìm hiểu, không nhất thiết phải yêu cầu đối tác chia sẻ toàn bộ danh sách khách hàng. Có thể bắt đầu bằng thông tin về kênh bán, vùng hoạt động, cách tổ chức kho và nhóm sản phẩm đang kinh doanh. Khi đi sâu hơn, hai bên mới thống nhất mức độ chia sẻ và bảo mật cần thiết.
Đưa hàng lên một kênh bán mới là điểm bắt đầu của công việc. Doanh nghiệp còn phải tính nội dung sản phẩm, hình ảnh, tồn kho, giao hàng, khiếu nại và hàng trả lại. Nếu chỉ nhìn doanh số kỳ vọng mà bỏ qua chi phí duy trì, kế hoạch có thể thiếu ngân sách ngay sau đợt bán đầu.
Trước khi lựa chọn, nên xác định ai đứng tên bán, ai là đơn vị nhập khẩu, ai chịu trách nhiệm dịch vụ khách hàng và ai có quyền sử dụng thương hiệu. Các điều khoản, phí và chính sách của từng kênh phải được kiểm tra trực tiếp tại thời điểm triển khai; không sử dụng một mức phí chung cho mọi nền tảng.
Một khách mua để sử dụng trong nhà máy có thể cần thử mẫu hoặc kiểm tra nội bộ trước khi có đơn. Doanh nghiệp nên hỏi rõ quy trình đánh giá: ai nhận mẫu, chỉ tiêu nào được kiểm tra, bao lâu có phản hồi và điều kiện để chuyển sang giai đoạn mua thử.
Ở đây, cuộc gặp tốt có thể kết thúc bằng một kế hoạch thử nghiệm rõ ràng. Đó là một bước tiến có ý nghĩa, dù chưa có hợp đồng ngay. Doanh nghiệp cần ghi nhận đúng trạng thái để đánh giá tiến độ và không nhầm sự quan tâm ban đầu với một cam kết mua hàng.
Câu hỏi “xuất khẩu sang Nga chịu thuế bao nhiêu” chỉ có thể được trả lời đúng khi đã có sản phẩm cụ thể. Tên thương mại thường chưa đủ. Cần biết thành phần, mức độ chế biến, công dụng, vật liệu, quy cách, đối tượng sử dụng và các đặc tính làm thay đổi cách phân loại.
Doanh nghiệp nên lập một trang thông tin cho mỗi sản phẩm ưu tiên. Trang này gồm ảnh, mô tả, thông số, thành phần nếu có, đơn vị đóng gói, nước xuất xứ nguyên liệu liên quan và mục đích sử dụng. Bộ thông tin thống nhất giúp bên xuất khẩu, nhà nhập khẩu và đơn vị khai báo cùng làm việc trên một cơ sở.
Việc xác định mã HS cần được đối chiếu với hệ thống phân loại và biểu thuế đang áp dụng ở nước nhập khẩu. Không nên lấy mã trên một giao dịch trước rồi mặc định sử dụng cho mọi phiên bản sản phẩm. Nếu có điểm chưa rõ, cần giải quyết trước khi chốt giá và lập chứng từ.
Doanh nghiệp cần xác định hàng có thuộc diện cấm, tạm ngừng, hạn chế hoặc yêu cầu giấy phép, điều kiện và kiểm tra chuyên ngành hay không. Khung quản lý ngoại thương và các văn bản hướng dẫn phải được đọc cùng danh mục cụ thể đang hiệu lực. Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật và Công báo là nguồn để kiểm tra văn bản, sửa đổi và tình trạng áp dụng. [15]
Về hồ sơ hải quan xuất khẩu, cổng VNTR của Bộ Công Thương nêu các nhóm chứng từ như tờ khai, hóa đơn thương mại hoặc chứng từ tương đương, giấy phép và giấy tờ kiểm tra khi thuộc diện yêu cầu. Không phải mọi loại chứng từ chuyên ngành đều áp dụng cho mọi lô hàng. Hồ sơ cuối cùng cần được xác định theo sản phẩm và hình thức giao dịch. [11]
Trong thực tế chuẩn bị, doanh nghiệp nên phân biệt giấy tờ phải có khi làm thủ tục với tài liệu đối tác cần để xét mua hàng. Catalogue, bảng giá, phiếu thông tin sản phẩm và mẫu hợp đồng có thể rất cần cho bán hàng nhưng không vì thế trở thành cùng một nhóm hồ sơ pháp lý. Phân biệt từ đầu giúp đúng người chuẩn bị đúng phần việc.
Hàng xuất đi từ Việt Nam không tự động có xuất xứ ưu đãi Việt Nam. Cần đối chiếu quy tắc xuất xứ của hiệp định, quy tắc cụ thể mặt hàng và các điều kiện liên quan. EEC công bố riêng bộ quy tắc xuất xứ, danh mục quy tắc theo sản phẩm ở phiên bản HS 2022 và mẫu chứng nhận xuất xứ EAV. [3]
Doanh nghiệp có sử dụng nguyên liệu nhập khẩu càng cần chuẩn bị thông tin truy xuất rõ. Bộ phận mua hàng, sản xuất và xuất nhập khẩu nên thống nhất cách lưu chứng từ, bảng nguyên liệu và công đoạn gia công. Nếu chỉ đến khi hàng đã chuẩn bị xong mới hỏi khả năng xin ưu đãi, việc sửa hồ sơ có thể mất thời gian hoặc không còn phù hợp.
Mẫu EAV cũng không có nghĩa mọi sản phẩm cùng hưởng một thuế suất. Cần tra đúng mã, đúng thời điểm và tình trạng áp dụng của ưu đãi, hạn ngạch hoặc biện pháp liên quan. Những ví dụ về thuế suất trong bài toán chi phí bên dưới chỉ dùng để thấy tác động của biến số, không xác định mức thuế cho sản phẩm cụ thể.
C/O là chứng nhận xuất xứ; mẫu EAV được sử dụng trong khuôn khổ hiệp định Việt Nam – EAEU theo điều kiện tương ứng. Hệ thống eCoSys của Bộ Công Thương công bố Thông tư 01/2024/TT-BCT sửa đổi quy định thực hiện quy tắc xuất xứ của hiệp định này, cùng các văn bản chung về cấp C/O. Doanh nghiệp cần kiểm tra hướng dẫn và cơ quan tiếp nhận hiện hành khi thực hiện. [4]
Một lỗi thường có thể tránh bằng tổ chức nội bộ là dùng tên, mã và mô tả không thống nhất giữa các bản tài liệu. Doanh nghiệp nên có một bảng thông tin gốc để lập hóa đơn, đóng gói, khai báo và hồ sơ liên quan. Nếu thay đổi quy cách hoặc thành phần, cần kiểm tra những chứng từ nào phải cập nhật trước khi gửi bản cuối cho đối tác.
Hồ sơ xuất xứ nên được chuẩn bị như một phần của quá trình sản xuất và mua hàng. Người phụ trách không nên phải đi tìm lại toàn bộ chứng từ khi lịch tàu đã gần đến. Sự chuẩn bị này giúp doanh nghiệp trả lời nhanh hơn khi có yêu cầu giải trình hoặc xác minh theo quy định.
EAC là dấu lưu thông chung gắn với hệ thống quy định kỹ thuật của EAEU. Với sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh, cần xác định hình thức đánh giá sự phù hợp áp dụng trước khi đưa ra lưu thông. Không nên dùng từ “chứng chỉ EAC” như một loại giấy tờ duy nhất cho mọi hàng hóa; chứng nhận, công bố sự phù hợp và các thủ tục khác có thể khác nhau theo sản phẩm và quy định. [9]
Doanh nghiệp nên yêu cầu đơn vị chuyên môn giải thích rõ căn cứ lựa chọn: sản phẩm thuộc quy chuẩn nào, ai được đứng tên hồ sơ, mẫu được gửi ở đâu, kết quả bao phủ những phiên bản nào và trong thời hạn nào. Một báo giá rẻ nhưng không phù hợp phạm vi sản phẩm có thể không giúp doanh nghiệp thực hiện được lô hàng dự kiến.
Không nên in dấu lên bao bì chỉ vì nhà thiết kế lấy hình từ một sản phẩm khác. Trình tự và điều kiện sử dụng phải được kiểm tra theo hồ sơ hợp lệ. Việc rà soát này nên hoàn thành trước khi doanh nghiệp in số lượng lớn, để tránh phải sửa nhãn hoặc đóng gói lại.
TR CU 021/2011 đề cập an toàn thực phẩm; TR CU 022/2011 đề cập thông tin ghi nhãn thực phẩm. Từng nhóm như nước quả, sản phẩm sữa, thịt hoặc thủy sản có thể cần đối chiếu thêm các quy định chuyên biệt. Việc chỉ có một chứng nhận hệ thống quản lý của nhà máy không đủ để kết luận sản phẩm đã hoàn tất mọi điều kiện lưu thông tại Nga. [5][6][7]
Để chuẩn bị, doanh nghiệp nên đưa bản công thức hoặc bảng thành phần chính xác, quy trình sản xuất phù hợp, chỉ tiêu chất lượng, cách bảo quản và thời hạn sử dụng vào bộ hồ sơ làm việc. Những nội dung thương mại như “tự nhiên”, “dành cho trẻ em” hay công dụng đặc biệt cũng cần được rà soát trước khi đưa lên nhãn hoặc quảng cáo.
Một thay đổi nhỏ trong công thức có thể khiến tài liệu đã duyệt cần được xem lại. Vì vậy, việc phát triển sản phẩm riêng cho đối tác phải có điểm chốt phiên bản: mẫu nào được chấp thuận, thành phần nào được sử dụng và hồ sơ nào tương ứng với lô sản xuất thực tế.
Đối với thực phẩm đóng gói thuộc phạm vi TR CU 022/2011, những nội dung cơ bản cần đối chiếu gồm tên sản phẩm, thành phần, lượng, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, điều kiện bảo quản, thông tin đơn vị liên quan và các mục khác theo trường hợp. Yêu cầu về ngôn ngữ và nội dung phải được kiểm tra theo quy chuẩn, bản sửa đổi và nhóm hàng. [6]
Doanh nghiệp nên để người hiểu cả ngôn ngữ và sản phẩm rà soát bản tiếng Nga. Dịch đúng từ chưa chắc đã đủ để người mua hiểu đúng cách sử dụng. Một thuật ngữ không chính xác về vật liệu, thành phần hoặc bảo quản có thể gây nhầm lẫn; đây là phần cần được kiểm tra cùng chuyên môn kỹ thuật.
Thiết kế nhãn nên được duyệt ở kích thước in thực tế. Có những nội dung nhìn rõ trên màn hình lớn nhưng khó đọc trên bao bì nhỏ. Các bản dịch, mã sản phẩm và thông tin nhập khẩu cần có người xác nhận trước khi phát hành; không nên xem nhãn là việc riêng của bộ phận thiết kế.
Nông sản, sản phẩm có nguồn gốc động vật và những nhóm thuộc quản lý chuyên ngành cần được kiểm tra điều kiện tương ứng. Doanh nghiệp phải xác định sản phẩm có cần giấy chứng nhận kiểm dịch, kiểm tra an toàn, yêu cầu đối với cơ sở hoặc thủ tục khác hay không. Điều kiện cần được xác nhận theo hàng hóa và trạng thái hiện hành, thay vì suy từ một lô của doanh nghiệp khác.
Với cơ sở thuộc diện tra cứu danh sách, cần đối chiếu đúng mã, địa chỉ, sản phẩm và tình trạng tại thời điểm chuẩn bị giao hàng. Nếu thông tin không trùng khớp, nên làm rõ trước khi sản xuất cho đơn mới. Một quyết định thương mại không nên dựa trên ảnh chụp danh sách không có ngày hoặc không biết được lấy từ đâu. [10]
ISPM 15 là tiêu chuẩn quốc tế về biện pháp kiểm dịch đối với bao bì gỗ trong thương mại quốc tế. Phạm vi liên quan tới bao bì từ gỗ thô, có những loại vật liệu đã qua chế biến được loại trừ theo tiêu chuẩn. Doanh nghiệp cần kiểm tra loại pallet, kiện và vật liệu chèn lót thực tế; không nên kết luận mọi vật liệu mang tên gỗ đều có cùng yêu cầu. [12]
Đơn vị đóng hàng và doanh nghiệp xuất khẩu nên thống nhất vật liệu ngay từ lúc lập phương án. Nếu chỉ kiểm tra sau khi đã hoàn thành đóng kiện, thay đổi có thể kéo theo thêm chi phí và ảnh hưởng lịch giao. Đối với hàng dễ hỏng hoặc dễ trầy xước, còn cần thử khả năng bảo vệ của bao bì trong điều kiện vận chuyển dự kiến.
Một số nhóm hàng tại Nga có yêu cầu nhận diện và truy xuất theo hệ thống Честный ЗНАК, thường được gọi là Chestny ZNAK. Phải kiểm tra nhóm hàng, lộ trình, thời điểm và trách nhiệm áp dụng cụ thể. Hướng dẫn của hệ thống về hàng nhập từ ngoài EAEU có nội dung liên quan tới thời điểm gắn mã trước khi đưa vào thủ tục tương ứng. [13]
Doanh nghiệp nên thống nhất với nhà nhập khẩu ai đăng ký dữ liệu, ai cung cấp mã, ai in hoặc gắn, ai kiểm tra và ai xử lý lỗi. Mã truy xuất, mã vạch bán lẻ và dấu EAC có mục đích khác nhau. Việc có một trong các dấu hoặc mã này không tự hoàn thành mọi nghĩa vụ của hai phần còn lại.
Thuế nhập khẩu phụ thuộc phân loại hàng, xuất xứ, ưu đãi và những điều kiện áp dụng. VAT nhập khẩu là nghĩa vụ khác, không tự mất đi khi thuế nhập khẩu được ưu đãi. Theo cơ quan thuế Nga, thuế suất VAT thông thường chuyển sang 22% từ ngày 01/01/2026; mức thực tế cho từng nhóm hàng phải đối chiếu theo quy định, kể cả trường hợp có thuế suất khác hoặc miễn. [14]
Doanh nghiệp cần hỏi rõ ai chịu trách nhiệm nộp, khoản nào ảnh hưởng dòng tiền và khoản nào có thể được xử lý theo chế độ thuế của nhà nhập khẩu. Không nên đưa một tỷ lệ VAT duy nhất vào mọi bảng giá, hoặc lấy thuế suất tại Nga để suy ra thuế đối với phí dịch vụ CHODAT tại Việt Nam.
Đây là điểm bắt đầu tra cứu, chưa phải kết luận một sản phẩm đã đủ điều kiện lưu thông. Cần cung cấp thành phần, công dụng, đối tượng sử dụng và mã hàng để xác định phạm vi, bản sửa đổi, hình thức đánh giá và chủ thể đứng tên phù hợp.
| Nhóm sản phẩm | Quy chuẩn cần xem theo trường hợp |
|---|---|
| Thực phẩm và thông tin nhãn | TR CU 021/2011, 022/2011; thêm quy chuẩn chuyên biệt theo nhóm hàng [5][6] |
| Phụ gia, hương liệu, chất hỗ trợ chế biến | TR CU 029/2012 [32] |
| Dệt may và sản phẩm công nghiệp nhẹ | TR CU 017/2011; phân biệt hàng trẻ em và hàng chuyên dụng [30] |
| Nước hoa, mỹ phẩm | TR CU 009/2011 [29] |
| Thiết bị điện, điện tử | Kiểm tra TR CU 004/2011, 020/2011 và quy chuẩn khác theo công dụng [7][31] |
| Nội thất | TR CU 025/2012 [8] |
Chứng nhận, công bố sự phù hợp, đăng ký nhà nước hoặc kiểm dịch không phải những giấy tờ thay thế tùy ý cho nhau. Hãy yêu cầu đầu mối chuyên môn xác nhận sản phẩm, căn cứ áp dụng, hồ sơ, đơn vị đứng tên và kế hoạch thử nghiệm trước khi chốt tiến độ giao hàng.
EAV là mẫu chứng nhận xuất xứ của hiệp định Việt Nam–EAEU. Ưu đãi phụ thuộc quy tắc mặt hàng và các điều kiện của hiệp định; không có một mức VAC 40% hoặc thuế 0% áp dụng chung. Đối chiếu biểu mẫu chính thức khi khai cấp sau, hóa đơn bên thứ ba hoặc sửa sai. [3][21][22]
Doanh nghiệp nên lập một bộ đối chiếu gồm tờ khai, hóa đơn, phiếu đóng gói, chứng từ vận tải, hồ sơ nguyên liệu và quy trình sản xuất. Khi dùng VAC hoặc chuyển đổi mã số, cần có bảng giải trình tương ứng. Xác nhận quy trình tiếp nhận hiện hành với cơ quan cấp và eCoSys, thay vì áp một thời hạn xử lý chung cho mọi hồ sơ.
Quy tắc xuất xứ có cơ chế xử lý sai khác nhỏ và xác minh; một lỗi hình thức không tự động đồng nghĩa mất ưu đãi. Kết quả phụ thuộc tình tiết và cơ quan có thẩm quyền. [21]
Một hồ sơ đẹp cần giúp đối tác hiểu nhanh doanh nghiệp làm gì và phù hợp ở đâu. Trang đầu nên nêu nhóm sản phẩm chính, năng lực có thể cung cấp và đầu mối phụ trách. Những phần còn lại ưu tiên thông tin mà người mua cần để trao đổi tiếp: quy cách, chất lượng, giá chào có điều kiện, thời gian chuẩn bị và khả năng phát triển sản phẩm.
Doanh nghiệp không cần đưa mọi thành tích vào một bản trình bày. Nếu có những thông tin chưa thể công khai, hãy chuẩn bị một phiên bản giới thiệu chung và một phần bổ sung chỉ chia sẻ khi phù hợp. Sự rõ ràng giúp đối tác đọc nhanh, còn cách chia sẻ có kiểm soát giúp doanh nghiệp giữ được thông tin quan trọng.
Trang sản phẩm nên cho thấy ảnh đúng, mã nội bộ, mô tả, quy cách, đóng gói, sản lượng dự kiến và điều kiện bảo quản khi liên quan. Nếu nhiều quy cách dùng chung một tên, cần đánh dấu rõ để tránh đối tác hỏi một loại nhưng doanh nghiệp báo giá loại khác.
Một ví dụ đơn giản là cà phê đóng túi 250 g và bao nguyên liệu phục vụ rang xay. Cả hai có thể thuộc danh mục cà phê của doanh nghiệp, nhưng cách dùng, kênh mua và cấu trúc chi phí khác nhau. Một trang thông tin tách bạch giúp cuộc gặp đi vào đúng sản phẩm thay vì dành thời gian giải thích lại từ đầu.
Giá chào cần có đồng tiền, đơn vị, quy cách, số lượng áp dụng, địa điểm giao và thời hạn hiệu lực. Nếu chưa có đủ dữ liệu để báo giá đến Nga, doanh nghiệp có thể bắt đầu bằng điều kiện giao phù hợp với phần việc mình kiểm soát, rồi hoàn thiện phương án khi có thông tin vận chuyển và nhập khẩu.
Không nên bỏ trống các điều kiện rồi trông chờ hai bên hiểu giống nhau. Với đơn thử, chi phí chuẩn bị có thể khác với đơn lặp lại. Với bao bì riêng, giá có thể phụ thuộc số lượng hoặc quyền sử dụng thiết kế. Việc ghi rõ từ đầu giúp đối tác so sánh có cơ sở và giúp doanh nghiệp bảo vệ mức lợi nhuận dự kiến.
Trước khi gửi mẫu, hãy xác nhận người nhận, địa chỉ, mục đích và loại mẫu cần thử. Không nên gửi một kiện lớn chỉ vì muốn giới thiệu đầy đủ danh mục. Bộ mẫu có chọn lọc, kèm hướng dẫn và bảng thông tin đúng, thường dễ được sử dụng hơn một lô nhiều sản phẩm nhưng không biết nên đánh giá thế nào.
Doanh nghiệp nên thống nhất một mốc trao đổi sau khi mẫu đến. Nếu cần thử kỹ thuật, hãy hỏi tiêu chí và cách ghi nhận kết quả. Nếu cần đánh giá cảm quan, có thể đề nghị phản hồi riêng về hương vị, kích thước, bao bì hoặc giá dự kiến. Những câu trả lời cụ thể hữu ích hơn một nhận xét chung rằng mẫu khá tốt.
Hồ sơ bán hàng, nội dung nhãn và hợp đồng không nên được xử lý như cùng một bản dịch. Hồ sơ giới thiệu cần sáng rõ và thuyết phục; nhãn cần đúng quy định và sản phẩm; hợp đồng cần chính xác về quyền, nghĩa vụ và cách hiểu. Mỗi loại nên có người kiểm tra phù hợp.
Bản tiếng Việt dùng để chuẩn bị nội dung cũng cần được viết rõ từ đầu. Một câu tiếng Việt mơ hồ thường kéo theo một bản dịch mơ hồ. Doanh nghiệp nên thay các câu như “chất lượng hàng đầu, giá cạnh tranh nhất” bằng thông tin có thể giải thích: đặc điểm sản phẩm, mức đáp ứng, cách kiểm tra và điều kiện cung cấp.
Trước khi sản xuất hoặc giao hàng, doanh nghiệp và ngân hàng cần kiểm tra tính thực hiện được của L/C, ngân hàng phát hành, vai trò thông báo/xác nhận và điều kiện xuất trình. UCP 600 áp dụng khi được dẫn chiếu; nguyên tắc dữ liệu không mâu thuẫn cần được đọc đúng bối cảnh, không diễn giải thành mọi chứng từ phải giống từng ký tự. [23]
| Điểm kiểm | Việc cần làm |
|---|---|
| Hạn giao và xuất trình | Lập lịch lùi từ ngày hết hiệu lực, hạn giao và hạn nộp chứng từ; xin sửa đổi nếu không thể thực hiện |
| Hóa đơn | Kiểm tên bên, tiền tệ, số tiền và mô tả theo yêu cầu L/C |
| Vận tải | Đúng loại chứng từ, tuyến, ngày giao và số bản gốc được yêu cầu |
| Đóng gói, xuất xứ, kiểm dịch | Kiểm số kiện, lượng, mã và giấy tờ thực sự được yêu cầu |
| Bất đồng | Hỏi ngân hàng về sửa đổi, thay thế hoặc xin chấp nhận; không coi người mua đồng ý là ngân hàng đã cam kết trả |
L/C không loại bỏ rủi ro ngân hàng, tuân thủ hoặc bất đồng chứng từ. Người xuất khẩu cần hiểu khác biệt giữa thông báo và xác nhận trước khi quyết định giao hàng.
Khi hỏi phương án vận tải, doanh nghiệp cần cung cấp khối lượng, kích thước, tính chất hàng, điểm đi, điểm nhận và thời gian cần có hàng. Một báo giá đến cảng không thể so trực tiếp với báo giá đến kho. Báo giá vận chuyển mẫu cũng không đại diện cho chi phí của một lô thương mại có quy mô khác.
Điểm cần so sánh không chỉ là cước chính. Hãy kiểm tra các khoản xử lý tại đầu đi, đầu đến, giao nhận chặng cuối, lưu kho dự kiến và phụ phí có điều kiện. Nếu một báo giá thiếu nhiều phần, mức tổng thấp hơn có thể chỉ phản ánh phạm vi hẹp hơn.
Các phương án đường biển, đường hàng không hoặc kết hợp nhiều chặng cần được đánh giá theo khả năng thực hiện tại thời điểm đặt dịch vụ. Doanh nghiệp nên yêu cầu xác nhận lịch, điểm chuyển tải, trách nhiệm giữa các bên và điều kiện áp dụng cho hàng cụ thể. Không nên dùng thời gian vận chuyển của một tuyến khác để hứa ngày giao.
Với hàng hạn sử dụng ngắn, phải tính cả thời gian chuẩn bị, làm thủ tục, vận tải và phân phối sau khi tới nơi. Với nội thất, cần xem đóng gói và khả năng bốc dỡ. Với hàng lạnh, cần xác định điều kiện bảo quản xuyên suốt và chứng từ theo dõi phù hợp. Phương án rẻ nhất trên giấy chưa chắc là phương án phù hợp nhất với lô hàng.
Incoterms® 2020 của ICC là bộ quy tắc thương mại để làm rõ những trách nhiệm liên quan đến giao hàng, chi phí và chuyển rủi ro theo điều kiện được lựa chọn. Khi sử dụng cần ghi cả địa điểm cụ thể và phiên bản. Các điều kiện như FCA, CIF hay DDP có phạm vi và nghĩa vụ khác nhau; không nên coi là những cách viết thay thế cho cùng một báo giá. [16]
Doanh nghiệp nên chọn điều kiện mình có khả năng thực hiện. Nếu muốn chào giao tới kho đối tác, phải biết ai làm thủ tục, ai trả các khoản thuế và ai xử lý khi hàng bị giữ để kiểm tra. Những vấn đề về thanh toán, quyền sở hữu, chất lượng và giải quyết tranh chấp vẫn cần được quy định trong hợp đồng phù hợp.
Trong chuyến đi 7–14 ngày, một buổi tìm hiểu logistics nên có mục tiêu rõ: hàng sẽ được nhận ở đâu, ai kiểm tra, ai lưu kho và hàng được giao tiếp như thế nào. Nếu có thể bố trí cuộc làm việc với đơn vị liên quan, doanh nghiệp nên chuẩn bị trước sơ đồ dòng hàng và những điểm đang chưa chắc chắn.
Việc vào kho, trung tâm phân phối hoặc cơ sở vận hành phải có chấp thuận trước. Nếu chưa có lịch được xác nhận, chương trình có thể bố trí trao đổi hồ sơ và quy trình tại địa điểm phù hợp. Không nên đưa một điểm vào lịch như thể chắc chắn được tiếp cận khi mới chỉ biết tên đơn vị.
Gửi cùng một bộ dữ liệu cho các đơn vị vận tải: nơi lấy/giao hàng, điều kiện Incoterms và phiên bản, số kiện, trọng lượng, kích thước, nhiệt độ, thời hạn sử dụng và ngày sẵn hàng. Yêu cầu tách cước chính, phụ phí, thủ tục, kho bãi, bảo hiểm, chặng cuối và thuế/phí thuộc trách nhiệm mỗi bên.
Ghi ngày hết hiệu lực báo giá, tuyến/chặng chuyển tải, thời gian dự kiến, ngày miễn lưu và cách xử lý khi kiểm tra hoặc chậm chuyến. So sánh cùng phạm vi trước khi chọn; lịch vận chuyển, bảo hiểm và khả năng nhận hàng cần được xác nhận lại khi đặt dịch vụ.
Một website đẹp, một cuộc gọi thuận lợi hay một buổi gặp trực tiếp chưa đủ để kết luận khả năng thanh toán. Doanh nghiệp cần đối chiếu tên pháp nhân, mã đăng ký, người đại diện, quyền ký và tài khoản nhận hoặc trả tiền. Nếu sử dụng nguồn đăng ký doanh nghiệp chính thức, cần lưu ngày tra cứu và nội dung đối chiếu, đồng thời hiểu rằng thông tin đăng ký không chứng minh toàn bộ năng lực tài chính. [18]
Trong giai đoạn đầu, có thể đề nghị đối tác làm rõ cách họ tổ chức nhập khẩu và thanh toán. Khi quy mô giao dịch tăng, doanh nghiệp nên cân nhắc mức kiểm tra sâu hơn tương ứng với giá trị và rủi ro. Những yêu cầu chia sẻ hồ sơ cần hợp lý, được giải thích rõ và bảo vệ thông tin của cả hai bên.
Doanh nghiệp cần trao đổi trực tiếp với ngân hàng phục vụ về loại tiền, hồ sơ, bên thụ hưởng và khả năng xử lý giao dịch cụ thể. Việc một loại tiền được nhắc đến trong thương mại song phương không bảo đảm mọi ngân hàng, mọi đối tác và mọi sản phẩm đều sử dụng được cùng một cách thanh toán.
Trước khi ký, cần thống nhất ai chịu phí, thời điểm được coi là đã thanh toán, điều kiện giao chứng từ và cách xử lý khi giao dịch chậm hoặc bị từ chối. Nếu phát sinh thay đổi tài khoản, nên có quy trình xác nhận độc lập với người có thẩm quyền. Không chuyển sang một tài khoản khác chỉ dựa trên một email yêu cầu gấp.
Hợp đồng nên mô tả sản phẩm, chất lượng, cách kiểm tra, lịch giao, thanh toán và trách nhiệm khi không đúng thỏa thuận. Nếu có mẫu được duyệt, cần xác định cách mẫu gắn với lô hàng. Nếu chấp nhận sai số, phải ghi rõ sai số nào và mức nào được chấp nhận.
Doanh nghiệp cũng cần xem cơ chế thông báo khiếu nại, bằng chứng, biện pháp khắc phục và giải quyết tranh chấp. Một điều khoản chỉ có ý nghĩa khi hai bên có thể thực hiện trong hoàn cảnh thực tế của giao dịch. Với nội dung phức tạp hoặc giá trị lớn, nên có đơn vị pháp lý phù hợp rà soát trước khi ký.
Nếu đối tác đề nghị độc quyền, hãy làm rõ phạm vi sản phẩm, địa bàn, thời hạn, mức mua và cách đánh giá. Một cam kết rộng nhưng không có nghĩa vụ tương ứng có thể làm doanh nghiệp mất cơ hội làm việc với những đối tác khác.
Doanh nghiệp có thể bắt đầu bằng một giai đoạn thử với mục tiêu rõ và điều kiện xem xét lại. Đây là vấn đề cần thương lượng theo hồ sơ cụ thể, không có một cấu trúc áp dụng tốt cho mọi trường hợp. Điều quan trọng là quyền được trao phải tương xứng với năng lực và cam kết có thể kiểm chứng của đối tác.
Làm việc với ngân hàng phục vụ bằng một hồ sơ giao dịch cụ thể: pháp nhân và người thụ hưởng, hàng hóa, đối tác/ngân hàng, đồng tiền, giá trị, tuyến giao và bộ chứng từ. Hồ sơ mở tài khoản thường cần thông tin doanh nghiệp, người đại diện, người được ủy quyền và mục đích giao dịch; danh mục cuối cùng do ngân hàng xác nhận.
Yêu cầu làm rõ khả năng xử lý, ngân hàng liên quan, phí, tỷ giá, thời gian dự kiến và quy trình tra soát hoặc trả lệnh. Việc sử dụng RUB/VND hay một kênh ngoài SWIFT không chứng minh giao dịch không có rủi ro. Các hạn chế và ngoại lệ phải được kiểm tra theo hàng hóa, chủ thể và pháp luật áp dụng; không suy từ tên ngân hàng hoặc đồng tiền. [28]
Không tự chuyển sang bên trả tiền khác, tài khoản khác hay đồng tiền khác khi có vướng mắc. Cần xác minh độc lập, ngân hàng chấp nhận và thỏa thuận hợp lệ giữa các bên. Mức tạm ứng, bảo đảm hoặc L/C được chọn theo năng lực và rủi ro giao dịch, không áp một tỷ lệ chung cho mọi doanh nghiệp.
Nên có cơ chế xác định trở ngại, thông báo, bằng chứng, giảm tác động, thương lượng lại và hậu quả khi không tiếp tục được. Việc phát sinh hạn chế ngân hàng hay tuyến vận tải không tự động miễn mọi nghĩa vụ; áp dụng phải xét hợp đồng, sự kiện và luật liên quan. Khung ICC là đầu mối tham khảo để luật sư điều chỉnh theo giao dịch. [24]
Khi cần phụ lục, liệt kê điều khoản gốc cần sửa, nội dung thay thế, người ký có thẩm quyền, ngày hiệu lực, ngôn ngữ ưu tiên và cách xử lý phần việc đang thực hiện. Tách thanh toán hợp pháp dự phòng với nghĩa vụ tuân thủ; thỏa thuận riêng không làm mất hiệu lực hạn chế bắt buộc.
| Phương án | Nội dung cần kiểm tra cùng chuyên gia |
|---|---|
| VIAC tại Việt Nam | Mẫu điều khoản chính thức, quy tắc áp dụng, địa điểm pháp lý, ngôn ngữ, số trọng tài viên và luật điều chỉnh [25] |
| ICAC thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Nga | Thỏa thuận trọng tài hợp lệ, quy tắc, địa điểm, ngôn ngữ, chi phí và yêu cầu thi hành phù hợp [26] |
So chi phí trên cùng giá trị tranh chấp, số trọng tài viên, luật sư và dịch thuật. Vị trí tài sản của đối tác cũng cần xem từ trước. Không mặc định một trung tâm luôn rẻ hơn, ngôn ngữ thuận lợi hơn hoặc thi hành ngay mà không qua thủ tục.
Công ước New York cung cấp khung công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, đồng thời có căn cứ từ chối. Một điều khoản được viết rõ không bảo đảm công nhận hoặc thu hồi tiền 100%. [27]
Lưu hợp đồng, thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền người ký, thông báo/tống đạt, chứng cứ giao nhận và thanh toán. Khi có tranh chấp, nhờ luật sư xác định tòa/cơ quan có thẩm quyền, thời hạn, bản dịch/chứng thực, yêu cầu hợp pháp hóa hoặc miễn trừ và tài sản có thể thi hành. Không suy rằng mọi hồ sơ đều cần cùng một quy trình hợp pháp hóa hoặc việc có phán quyết đồng nghĩa đã thu được nợ.
Mức phí được trình bày trên trang là 99,9 triệu đồng/doanh nghiệp cho giai đoạn 1, bao gồm giai đoạn 2; giai đoạn 3 có phí bổ sung 379 triệu đồng/doanh nghiệp. Tổng phí khi chọn cả chương trình là 478,9 triệu đồng/doanh nghiệp. Đây là phí dịch vụ, cần đọc cùng phạm vi, cách nghiệm thu và điều kiện thanh toán trong báo giá.
Khoản phí này không phải giá vốn hàng xuất khẩu, không phải số tiền đầu tư vào một thương vụ và không phải cam kết có đơn hàng. Doanh nghiệp nên đánh giá theo công việc được thực hiện, thông tin nhận được và khả năng sử dụng kết quả để đi tiếp.
Doanh nghiệp có thể phát sinh chi phí làm mẫu, kiểm nghiệm, điều chỉnh nhãn, chụp sản phẩm hoặc chuẩn bị tài liệu ngoài phần đã được bao gồm trong hợp đồng dịch vụ. Trước khi lập dự toán, cần đối chiếu để tránh tính hai lần cùng một đầu việc.
Nếu hồ sơ hiện tại đã đủ dùng, khoản này có thể nhỏ. Nếu sản phẩm cần phát triển riêng hoặc chưa rõ điều kiện nhập khẩu, chi phí có thể khác đáng kể. Cách quản lý phù hợp là tách từng đầu việc, người thực hiện, căn cứ báo giá và điều kiện chỉ phát sinh khi doanh nghiệp chấp thuận.
Chuyến đi dài 7, 10 hoặc 14 ngày cần dự toán theo số đại biểu và lịch thực tế. Các nhóm cần xem gồm vé quốc tế, lưu trú, ăn uống, di chuyển, hồ sơ nhập cảnh, bảo hiểm, phiên dịch trực tiếp, vận chuyển mẫu và phần bổ sung khi đổi địa bàn. Khoản nào đã nằm trong dịch vụ phải được đánh dấu rõ để không cộng lại.
Số ngày dài hơn tạo thêm thời gian tìm hiểu, đồng thời làm tăng một số chi phí và thời gian nhân sự rời công việc trong nước. Doanh nghiệp nên lựa chọn theo những câu hỏi còn cần giải đáp. Nếu chưa có mục tiêu cho các ngày tăng thêm, kéo dài chuyến đi chưa chắc tạo thêm giá trị tương ứng.
Sau kết nối, doanh nghiệp còn cần nguồn lực cho sản xuất, giao nhận, hồ sơ, thuế và vận hành thương mại. Nếu muốn xây dựng thương hiệu tại điểm bán, có thể còn cần ngân sách nội dung, trưng bày hoặc hỗ trợ phân phối theo thỏa thuận. Các khoản này phải được xây dựng từ phương án thực tế.
Một đơn hàng có doanh thu tốt vẫn có thể gây áp lực dòng tiền nếu doanh nghiệp phải sản xuất trước, giữ hàng lâu hoặc chờ thanh toán. Vì vậy, kế hoạch vào Nga nên có người phụ trách ngân sách, dòng tiền và giới hạn phê duyệt ở từng bước.
Giả sử doanh nghiệp chọn phí kết nối 99,9 triệu đồng. Ngoài phạm vi dịch vụ đã xác định, doanh nghiệp tự đặt ngân sách làm mẫu mới 12 triệu đồng, gửi mẫu 18 triệu đồng và hoàn thiện kiểm nghiệm, nhãn bổ sung 25 triệu đồng. Đây là số giả định để minh họa cách cộng ngân sách, không phải báo giá thị trường hoặc khoản thu bắt buộc.
| Khoản trong tình huống giả định | Triệu đồng |
|---|---|
| Phí dịch vụ giai đoạn 1, bao gồm giai đoạn 2 | 99,90 |
| Mẫu mới ngoài phạm vi dịch vụ | 12,00 |
| Gửi mẫu theo giả định | 18,00 |
| Kiểm nghiệm và nhãn bổ sung theo giả định | 25,00 |
| Cộng trước dự phòng | 154,90 |
| Dự phòng do doanh nghiệp chọn, 10% của mức cộng trên | 15,49 |
| Tổng ngân sách minh họa | 170,39 |
Trong ví dụ này, chỉ 99,9 triệu đồng là mức phí dịch vụ đã được nêu. Các khoản còn lại cần thay bằng báo giá và nhu cầu thật. Dự phòng 10% là giả định quản trị để minh họa, không phải tỷ lệ khuyến nghị chung hoặc phí bổ sung của CHODAT. Thuế đối với phí dịch vụ được làm rõ trong báo giá chính thức.
Để nhìn thấy tác động của thời lượng, giả sử một doanh nghiệp cử hai đại biểu và tự đặt ngân sách cố định 70 triệu đồng cho vé, hồ sơ và bảo hiểm; ngân sách thay đổi theo ngày là 5 triệu đồng cho cả đoàn, gồm các khoản chi tại chỗ đã chọn trong ví dụ. Giả sử các khoản này đều nằm ngoài phí dịch vụ, chưa có chi phí thành phố thứ hai và chưa tính thuế đối với dịch vụ. Các con số là giả định nội bộ, không phải giá vé, khách sạn hoặc dịch vụ đang được chào bán.
| Cách tính trong cùng một tình huống giả định | 7 ngày | 10 ngày | 14 ngày |
|---|---|---|---|
| Phí dịch vụ giai đoạn 3, triệu đồng/doanh nghiệp | 379,0 | 379,0 | 379,0 |
| Ngân sách chuyến đi cố định giả định, triệu đồng | 70,0 | 70,0 | 70,0 |
| Khoản thay đổi theo ngày: 5 triệu × số ngày | 35,0 | 50,0 | 70,0 |
| Cộng khoản chuyến đi ngoài dịch vụ | 105,0 | 120,0 | 140,0 |
| Dự phòng giả định 10% chỉ trên khoản chuyến đi | 10,5 | 12,0 | 14,0 |
| Giai đoạn 3 và ngân sách chuyến đi có dự phòng | 494,5 | 511,0 | 533,0 |
| Nếu cộng thêm phí giai đoạn 1 là 99,9 triệu | 594,4 | 610,9 | 632,9 |
Bảng này không xác nhận rằng từng khoản ngoài dịch vụ chắc chắn phát sinh hoặc có thể mua ở mức giả định. Khi báo giá thật, cần bỏ khoản đã bao gồm, bổ sung khoản còn thiếu và kiểm tra lại số đại biểu. Chuyến 14 ngày có thành phố thứ hai sẽ cần thêm phương án riêng, thay vì dùng nguyên ngân sách của hành trình chỉ ở Moscow.
Điểm đáng chú ý là chi phí ngày tăng thêm nên được so với thông tin thu được. Ba ngày bổ sung có thể đáng đầu tư nếu giúp doanh nghiệp gặp lại đối tác quan trọng, xem kỹ kênh bán hoặc làm rõ một điểm nghẽn logistics. Ngược lại, những ngày chưa có nội dung làm việc nên được điều chỉnh trước khi đặt dịch vụ.
Giả sử một lô hàng không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt có trị giá tính thuế đã được xác định là 1 tỷ đồng sau quy đổi minh họa. Đặt hai kịch bản thuế nhập khẩu 0% và 5% chỉ để so sánh; đây không phải mức thuế được xác nhận cho sản phẩm nào. Giả sử VAT áp dụng là 22% trong tình huống này, chi phí nội địa sau nhập khẩu là 60 triệu đồng và lô hàng có 10.000 đơn vị bán được.
Theo cách xác định cơ sở VAT nhập khẩu tại Điều 160 của Bộ luật thuế Nga, trong trường hợp thông thường liên quan ở đây, cơ sở gồm trị giá hải quan, thuế nhập khẩu phải nộp và thuế tiêu thụ đặc biệt nếu có. Việc áp dụng thực tế phải kiểm tra trường hợp cụ thể. [17]
| Khoản minh họa, triệu đồng | Kịch bản thuế nhập khẩu 0% | Kịch bản thuế nhập khẩu 5% |
|---|---|---|
| Trị giá tính thuế giả định | 1.000 | 1.000 |
| Thuế nhập khẩu | 0 | 50 |
| Cơ sở tính VAT trong ví dụ | 1.000 | 1.050 |
| VAT giả định 22% | 220 | 231 |
| Chi phí nội địa bổ sung giả định | 60 | 60 |
| Tổng dòng tiền cho các khoản trong bảng | 1.280 | 1.341 |
| Bình quân trên 10.000 đơn vị, đồng/đơn vị | 128.000 | 134.100 |
Chênh lệch dòng tiền trong hai kịch bản là 61 triệu đồng, gồm 50 triệu đồng thuế nhập khẩu và 11 triệu đồng VAT tăng thêm trong phép tính giả định. Như vậy, tác động của ưu đãi thuế có thể đi xa hơn một dòng thuế nhập khẩu, nhưng chỉ được sử dụng trong phương án thật khi sản phẩm đủ điều kiện và cách tính đã được xác nhận.
Khoản VAT nộp tại nhập khẩu có thể được xử lý theo cơ chế thuế của nhà nhập khẩu nếu đáp ứng điều kiện. Vì vậy, tổng tiền phải chuẩn bị và chi phí kinh tế cuối cùng có thể khác nhau. Bảng trên thể hiện dòng tiền của tình huống, không khẳng định toàn bộ VAT là chi phí không được thu hồi. Việc tính và nộp thực tế dùng đồng tiền, tỷ giá và quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Trong ngân sách thật, doanh nghiệp cần biết khoản nào được thanh toán bằng đồng nào và ở thời điểm nào. Không nên dùng một tỷ giá truyền miệng để chốt hợp đồng dài hạn. Có thể lập các tình huống giả định riêng để xem mức biến động nào làm mất biên lợi nhuận, sau đó trao đổi phương án với bộ phận tài chính và ngân hàng.
Chi phí bình quân cũng phụ thuộc số đơn vị thực sự bán được. Nếu hàng bị hỏng, trả lại hoặc phải giảm giá, tổng số đơn vị tạo doanh thu có thể thấp hơn số đã xuất. Doanh nghiệp nên tách ngân sách hàng thử với kế hoạch bán ổn định, tránh lấy kết quả của một lô đặc biệt để kết luận cho cả năm.
Một phép tính quản trị đơn giản là lấy chi phí xúc tiến cần thu hồi chia cho lợi nhuận đóng góp dự kiến của mỗi đơn vị hoặc mỗi đơn hàng. Lợi nhuận đóng góp ở đây cần được tính nhất quán sau những chi phí biến đổi liên quan, không dùng doanh thu thay cho lợi nhuận.
Ví dụ giả định, nếu khoản cần thu hồi là 170,39 triệu đồng và mỗi đơn vị tạo 20.000 đồng lợi nhuận đóng góp, doanh nghiệp cần khoảng 8.520 đơn vị để bù khoản đó theo phép tính làm tròn lên. Đây chỉ là bài toán minh họa, chưa xét chi phí cố định khác, thời gian thu tiền hay khả năng có đơn hàng. Nó giúp doanh nghiệp đặt câu hỏi đúng về quy mô cần đạt, thay vì biến một khoản phí thành lời hứa hoàn vốn.
Với hội chợ, đoàn xúc tiến, tự tìm kiếm hoặc CHODAT, hãy ghi theo cùng các cột: đầu việc, đã bao gồm, phải làm thêm, đơn vị chịu trách nhiệm, căn cứ chi phí và kết quả cần nhận. Tách phí chương trình khỏi thời gian nhân sự, mẫu, đi lại, xác minh và theo dõi sau kết nối. Những phương án có thể bổ trợ nhau nếu doanh nghiệp có đủ nguồn lực xử lý.
Giá trị của đồng hành còn nằm ở việc có căn cứ trước khi chi bước tiếp theo: bổ sung gì để người mua đánh giá, cần xác minh điều kiện nào, và có nên đi tiếp với cơ hội đó. Hãy theo dõi thời gian xử lý, chất lượng thông tin và tiến độ việc tiếp theo; không lấy số cuộc gặp làm bằng chứng duy nhất cho hiệu quả hoặc coi phí dịch vụ là lời hứa hoàn vốn.
Một chuyến đi có chiều sâu cần nhiều hơn lịch gặp kín. Doanh nghiệp cần thời gian quan sát điểm bán, so sánh sản phẩm, trao đổi lại sau cuộc gặp và kiểm tra những giả định đã mang từ Việt Nam. Có những vấn đề chỉ xuất hiện khi nhìn sản phẩm trên kệ: bao bì đang được dùng ra sao, mức giá nào thuộc cùng phân khúc và người mua được giới thiệu sản phẩm bằng thông tin gì.
Vì vậy, giai đoạn 3 được thiết kế theo ba khung 7, 10 và 14 ngày. Mỗi khung có trọng tâm riêng. Doanh nghiệp không cần chọn chuyến dài nhất để chứng minh mức độ quyết tâm; nên chọn thời lượng đủ để giải quyết những câu hỏi có ảnh hưởng lớn tới quyết định đầu tư.
Các lịch dưới đây là khung thiết kế, tính theo ngày hành trình đi và về, cần được xếp lại theo lịch bay, ngày làm việc, dịp nghỉ và xác nhận của từng đơn vị. Số ngày không đồng nghĩa với số ngày gặp đối tác. Thời gian di chuyển, chuẩn bị và tổng hợp được tính vào chương trình để doanh nghiệp có thể làm việc hiệu quả.
Khung này phù hợp với doanh nghiệp đã có hồ sơ tương đối đầy đủ, muốn kiểm tra tính phù hợp của sản phẩm và đánh giá một nhóm đối tác tại Moscow. Phạm vi khảo sát nên tập trung vào một nhóm hàng chính để sử dụng tốt thời gian.
| Ngày | Trọng tâm công việc dự kiến | Thông tin cần mang về |
|---|---|---|
| 1 | Di chuyển Việt Nam – Nga, nhận phòng theo lịch bay | Rà soát lịch, đầu mối liên hệ và bộ mẫu |
| 2 | Chuẩn bị làm việc, khảo sát nhận diện một nhóm điểm bán | Bảng so sánh sản phẩm, quy cách và giá niêm yết quan sát được |
| 3 | B2B theo lịch xác nhận, nhóm đối tác thứ nhất | Nhu cầu, điều kiện mua, câu hỏi cần làm rõ |
| 4 | B2B theo lịch xác nhận, nhóm đối tác tiếp theo | Yêu cầu mẫu, hồ sơ, khả năng phân phối |
| 5 | B2B còn lại hoặc làm việc sâu về kênh bán và logistics | Điểm nghẽn vận hành, thông tin cần báo giá |
| 6 | Tổng hợp, trao đổi lại với đối tác ưu tiên khi có lịch | Danh sách việc tiếp theo, người phụ trách và mốc phản hồi |
| 7 | Di chuyển về Việt Nam theo hành trình đã chốt | Bộ tài liệu làm việc và kế hoạch xử lý sau chuyến đi |
Mục tiêu 5–10 cuộc gặp được phân bổ theo thời lượng từng buổi, khoảng cách di chuyển và lịch đối tác; không dồn số lượng chỉ để đủ một chỉ tiêu. Nếu một buổi cần xem mẫu hoặc làm rõ kỹ thuật, nên dành đủ thời gian cho nội dung đó. Một cuộc trao đổi sâu có thể quan trọng hơn việc bổ sung thêm một cuộc gặp chưa đúng nhu cầu.
Phương án 7 ngày có độ linh hoạt thấp hơn khi lịch thay đổi. Vì vậy, hồ sơ, câu hỏi và vai trò từng thành viên nên được chuẩn bị kỹ. Những việc có thể giải quyết trực tuyến trước khi đi nên được hoàn thành sớm, để thời gian tại Nga dành cho điều cần quan sát hoặc gặp trực tiếp.
Mười ngày tạo khoảng trống hợp lý giữa các nhóm công việc: gặp người mua, quan sát kênh bán, tìm hiểu logistics và trao đổi lại. Đây là khung đề xuất làm lựa chọn chính khi doanh nghiệp muốn kết hợp kết nối B2B với nghiên cứu thực địa, đồng thời giữ hành trình tập trung ở Moscow và vùng phụ cận phù hợp.
| Ngày | Trọng tâm công việc dự kiến | Đầu ra dự kiến |
|---|---|---|
| 1 | Di chuyển đến Nga theo lịch bay | Bộ lịch và đầu mối đã cập nhật |
| 2 | Chuẩn bị, rà hồ sơ, khảo sát định hướng | Danh sách câu hỏi cần kiểm tra tại thị trường |
| 3 | B2B nhóm nhà nhập khẩu hoặc khách mua phù hợp | Ghi nhận nhu cầu và mức phù hợp ban đầu |
| 4 | B2B nhóm nhà phân phối hoặc đối tác còn lại | Điều kiện tiếp nhận, tiêu chí sản phẩm và việc tiếp theo |
| 5 | Khảo sát điểm bán thuộc những phân khúc đã chọn | Bảng so sánh giá, quy cách, nhãn và cách trưng bày |
| 6 | Quan sát kênh bán công khai; rà soát thông tin đã thu | Bộ ảnh được phép sử dụng và ghi chép theo cùng mẫu |
| 7 | Nghiên cứu kênh trực tuyến, tổng hợp giữa kỳ | Những giả định được xác nhận hoặc cần sửa |
| 8 | Làm việc logistics hoặc phân phối khi đã xác nhận lịch | Bản mô tả dòng hàng, trách nhiệm và đầu việc cần báo giá |
| 9 | Gặp lại đối tác ưu tiên, hoàn thiện kế hoạch sau khảo sát | Danh sách ưu tiên và kế hoạch thử sản phẩm |
| 10 | Di chuyển về Việt Nam theo lịch đã chốt | Hồ sơ bàn giao nội bộ và lịch theo dõi tiếp |
Ngày 6 và ngày 7 được bố trí thuận tiện cho hoạt động quan sát công khai hoặc tổng hợp nếu trùng cuối tuần. Khi lịch khởi hành thay đổi, toàn bộ thứ tự sẽ được điều chỉnh để những buổi cần người phụ trách tại doanh nghiệp Nga rơi vào thời gian họ có thể tiếp. Chương trình không mặc định các đơn vị làm việc vào ngày nghỉ.
Khoảng thời gian giữa các cuộc gặp giúp doanh nghiệp sửa cách giới thiệu ngay trong chuyến đi. Nếu đối tác đầu tiên quan tâm một quy cách chưa được trình bày rõ, đoàn có thể bổ sung tài liệu trước buổi tiếp theo. Nếu giá chào đang được hiểu trên cơ sở khác, có thể điều chỉnh cách giải thích trước khi vấn đề lặp lại.
Khung 14 ngày dành cho doanh nghiệp có nhu cầu nghiên cứu sâu hơn và đủ nguồn lực xử lý thông tin thu được. Có thể tiếp tục tập trung tại Moscow để hiểu nhiều lớp kênh phân phối, hoặc bổ sung Saint Petersburg khi nhóm hàng, đối tác và lịch làm việc cho thấy việc di chuyển có giá trị. Thành phố thứ hai là lựa chọn có điều kiện, không phải một điểm phải đến trong mọi chuyến.
| Ngày | Khung công việc dự kiến | Mục đích |
|---|---|---|
| 1–2 | Di chuyển, ổn định và chuẩn bị tại Moscow | Bảo đảm đoàn có đủ hồ sơ và lịch làm việc |
| 3–5 | B2B và trao đổi sản phẩm theo lịch đã xác nhận | Làm rõ nhu cầu, điều kiện mua và yêu cầu mẫu |
| 6–7 | Khảo sát kênh bán công khai, tổng hợp giữa kỳ | So sánh cách sản phẩm xuất hiện trong từng phân khúc |
| 8 | Làm việc về logistics, kho hoặc vận hành khi được chấp thuận | Đối chiếu khả năng giao và phân phối |
| 9 | Gặp lại đối tác ưu tiên tại Moscow | Giải quyết những điểm còn mở trước khi rời địa bàn |
| 10 | Di chuyển tới địa bàn thứ hai nếu đủ điều kiện; nếu không, khảo sát sâu tại Moscow | Dành thời gian thực cho chuyển chặng hoặc nghiên cứu bổ sung |
| 11 | Làm việc tại địa bàn thứ hai theo lịch xác nhận, hoặc chuyên đề ngành tại Moscow | Kiểm tra sự phù hợp của hướng phân phối đã chọn |
| 12 | Khảo sát điểm bán và trao đổi bổ sung | Thu thập dữ liệu so sánh theo cùng phương pháp |
| 13 | Tổng hợp, hoàn thiện phương án; trở về điểm khởi hành quốc tế nếu cần | Chốt những việc ưu tiên và điều kiện thực hiện |
| 14 | Hành trình về Việt Nam theo vé đã chốt | Kết thúc chuyến đi trong khung hành trình phù hợp |
Nếu chưa có đủ cuộc làm việc tại địa bàn thứ hai, nên dành thời gian đào sâu thị trường đang nghiên cứu. Chuyển thành phố chỉ để có thêm một điểm đến có thể làm mất thời gian khảo sát, tăng chi phí và khiến đoàn về với nhiều ảnh nhưng ít thông tin có thể dùng.
Với chuyến 14 ngày, doanh nghiệp nên cử người có khả năng tổng hợp và ra quyết định về những điều chỉnh trong phạm vi được phân quyền. Khi phát sinh nhu cầu làm mẫu hoặc chỉnh báo giá, đoàn cần liên lạc được với bộ phận ở Việt Nam. Nếu mọi việc đều phải chờ sau chuyến đi, lợi thế của thời gian dài hơn có thể bị giảm đáng kể.
Mỗi quan sát nên có ngày, địa điểm, loại kênh, tên sản phẩm, xuất xứ được thể hiện trên nhãn, quy cách và giá niêm yết nếu được phép ghi nhận. Giá cần đi cùng thông tin khuyến mại và đơn vị tính. Một túi 200 g đang giảm giá không nên được so trực tiếp với túi 500 g giá thường rồi kết luận sản phẩm bên nào rẻ hơn.
Hình ảnh chỉ được chụp và sử dụng khi phù hợp quy định của địa điểm và quyền liên quan. Doanh nghiệp không cần thu thập thông tin cá nhân của người mua để có một báo cáo hữu ích. Ghi chép về sản phẩm, cách trưng bày và thông tin công khai thường đã giúp trả lời nhiều câu hỏi ban đầu.
Những điểm bán được quan sát là một mẫu khảo sát có chủ đích, không đại diện thống kê cho toàn bộ nước Nga. Kết quả nên được trình bày đúng phạm vi: đã thấy điều gì, ở đâu và cần kiểm tra thêm điều gì. Sự trung thực về giới hạn giúp lãnh đạo doanh nghiệp sử dụng thông tin đúng hơn.
Một bộ đầu ra hợp lý có thể gồm bản ghi nhận cuộc gặp, bảng đối chiếu sản phẩm tại điểm bán, ghi chú về điều kiện phân phối, danh sách hồ sơ cần hoàn thiện và kế hoạch xử lý sau chuyến đi. Phạm vi, biểu mẫu, thời điểm bàn giao và người thực hiện cần được ghi trong phương án dịch vụ, không để đến lúc kết thúc mới thống nhất.
Trong bảng theo dõi đối tác, nên phân biệt người cần phản hồi giá, người cần nhận mẫu, người đang kiểm tra nội bộ và trường hợp chưa phù hợp. Mỗi nhóm cần cách theo dõi khác nhau. Nếu gom tất cả thành một danh sách “đối tác tiềm năng”, doanh nghiệp sẽ khó biết tuần tiếp theo cần làm gì.
Loại visa phải phù hợp quốc tịch, mục đích và điều kiện của từng đại biểu. Cổng thị thực điện tử của cơ quan lãnh sự Nga công bố điều kiện của thị thực thống nhất; doanh nghiệp cần kiểm tra quy định, cửa khẩu và cách tính thời gian lưu trú đang áp dụng trước khi chốt hành trình. Số ngày chương trình trên trang không phải xác nhận đủ điều kiện nhập cảnh cho một cá nhân. [20]
Vé, phòng, bảo hiểm và dịch vụ tại chỗ nên được đối chiếu điều kiện thay đổi, phạm vi bảo hiểm và trách nhiệm khi lịch điều chỉnh. Những thông tin hộ chiếu hoặc hồ sơ nhập cảnh chỉ được thu qua quy trình phù hợp khi thật sự cần, không yêu cầu ngay trên biểu mẫu đăng ký tư vấn công khai.
Chuyến khảo sát hoàn thành khi doanh nghiệp đã có đủ thông tin để chọn bước tiếp theo; việc phát triển thị trường còn tiếp tục sau khi về nước. Một kế hoạch tốt nên chỉ rõ ưu tiên nào cần xử lý trước, khoản nào cần phê duyệt và ai chịu trách nhiệm phản hồi đối tác.
Doanh nghiệp có thể chia việc thành ba nhóm. Nhóm thứ nhất là những nội dung cần phản hồi ngay như tài liệu đã hứa, bảng giá chỉnh sửa hoặc thông tin về mẫu. Nhóm thứ hai là các vấn đề phải phối hợp nội bộ như thử công thức, kiểm tra đóng gói hoặc làm rõ chi phí. Nhóm thứ ba là quyết định thương mại như tiếp tục đầu tư, chọn đối tác thử hoặc tạm dừng một hướng chưa phù hợp.
Mỗi đầu việc nên có người phụ trách, mốc dự kiến và bằng chứng hoàn thành. Việc gửi email chưa đồng nghĩa đối tác đã chấp thuận; việc nhận mẫu chưa đồng nghĩa đã có đơn; một đơn thử chưa chứng minh được nhu cầu lặp lại. Ghi nhận đúng giúp doanh nghiệp nhìn thấy tiến độ thực và phân bổ nguồn lực hợp lý.
Đối với những hướng đang có tín hiệu tốt, doanh nghiệp nên chốt trước quy trình xử lý đơn đầu tiên. Ai duyệt giá? Ai xác nhận quy cách? Khi nào bắt đầu sản xuất? Hồ sơ nào phải hoàn thiện trước khi giao? Câu trả lời rõ sẽ giúp doanh nghiệp phản hồi nhanh khi cơ hội đi tới bước thực hiện.
Nếu kết quả cho thấy cần điều chỉnh sản phẩm hoặc chưa phù hợp để triển khai, đó vẫn là thông tin có giá trị. Doanh nghiệp có thể tránh một khoản đầu tư lớn hơn khi chưa đủ cơ sở. Điều cần thiết là kết luận được ghi lại bằng những dữ liệu đã thu và những giả định còn phải kiểm tra.
Có thể gửi nhu cầu để trao đổi. Doanh nghiệp nên cho biết sản phẩm, tình trạng hồ sơ, năng lực cung ứng và mục tiêu hiện tại. Từ đó có thể đánh giá nên bắt đầu bằng chuẩn bị, kết nối trực tuyến hay cần hoàn thiện điều kiện nền trước. Gửi yêu cầu không đồng nghĩa mọi hồ sơ đều phù hợp để tổ chức ngay một chuyến sang Nga.
Đây là phí giai đoạn 1, bao gồm bước gặp trực tuyến của giai đoạn 2 theo cấu trúc chương trình. Phạm vi dự kiến gồm làm rõ hồ sơ, danh sách tiếp cận 40 doanh nghiệp Nga và 7 cuộc gặp trực tuyến có điều phối, phiên dịch trực tuyến. Đầu việc, điều kiện và cách nghiệm thu được ghi trong báo giá, hợp đồng tương ứng.
Đó là phí bổ sung cho giai đoạn 3, gắn với chương trình khảo sát thị trường và kết nối trực tiếp theo phương án đã thống nhất. Khi chọn cả phần trực tuyến và giai đoạn 3, tổng phí dịch vụ là 478,9 triệu đồng/doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần xem thêm các khoản chi chuyến đi và chi phí khác theo phần bao gồm, chưa bao gồm.
Đây là ba khung thời lượng để thiết kế nội dung khảo sát. Trang giữ mức phí giai đoạn 3 là 379 triệu đồng/doanh nghiệp; phạm vi công việc theo từng khung sẽ được thể hiện trong phương án chính thức. Các khoản chi theo ngày, số đại biểu hoặc địa bàn cần lập riêng theo thực tế, không suy ra từ một con số trọn gói chưa được xác nhận.
Khung 10 ngày có thời gian cho gặp B2B, khảo sát kênh bán, tìm hiểu vận hành và trao đổi lại trước khi về. Đây là đề xuất thiết kế cho nhu cầu nghiên cứu sâu, không phải thời lượng bắt buộc. Doanh nghiệp đã chuẩn bị kỹ và có mục tiêu hẹp có thể phù hợp với 7 ngày; nhu cầu rộng hơn có thể cần 14 ngày.
Chưa. Đây là danh sách tiếp cận ban đầu được xây dựng theo tiêu chí sản phẩm và đối tác. Việc phản hồi, tham gia cuộc gặp và quyết định mua là những bước khác nhau. Doanh nghiệp cần đánh giá kết quả theo trạng thái thực tế, không hiểu số lượng trong danh sách như số khách hàng đã ký hoặc đã qua thẩm định toàn diện.
Kết quả mua bán phụ thuộc sự phù hợp của sản phẩm, giá, hồ sơ, năng lực cung ứng và quyết định của các bên. CHODAT hỗ trợ kết nối theo phạm vi đã thỏa thuận. Doanh nghiệp nên xem mục tiêu chuyến đi là tìm hiểu, đánh giá và xây dựng những bước hợp tác có cơ sở, cùng các đầu ra cụ thể trong phương án dịch vụ.
Doanh nghiệp có thể nêu tên hoặc tiêu chí đối tác mong muốn để được đánh giá khả năng tiếp cận. Việc nêu tên trong yêu cầu không có nghĩa đơn vị đó đã đồng ý tham dự. Chỉ đưa cuộc làm việc vào lịch xác nhận khi có đủ thông tin về người tham gia, nội dung, thời gian và điều kiện tổ chức.
Hoạt động khảo sát công khai và cuộc thăm làm việc chính thức có điều kiện khác nhau. Việc vào khu vực vận hành, trao đổi với người phụ trách hoặc sử dụng hình ảnh phải có chấp thuận phù hợp. Phương án sẽ nêu rõ nội dung đã được xác nhận và nội dung cần tiếp tục thu xếp; không coi tên một địa điểm trên bản dự kiến là quyền được tiếp cận.
Có thể xem xét trong khung 14 ngày nếu mục tiêu sản phẩm, lịch đối tác và phương án di chuyển phù hợp. Nếu chưa có nội dung làm việc đủ giá trị ở địa bàn thứ hai, nên dành thời gian khảo sát sâu tại Moscow. Lịch di chuyển, chi phí và điểm khởi hành về Việt Nam cần được chốt cùng toàn bộ hành trình.
Doanh nghiệp có thể gửi nhu cầu để trao đổi tình trạng chuẩn bị và mục tiêu thực tế. Việc có cần bổ sung công việc trước chuyến đi hay không sẽ được làm rõ trong phương án. Không nên bỏ qua bước xác định sản phẩm, đối tác và hồ sơ chỉ vì đã có sẵn ngân sách công tác.
Các nội dung này phải được xác định trong báo giá. Trang phân biệt phí dịch vụ với tổng ngân sách để doanh nghiệp không hiểu nhầm. Số đại biểu, thời gian, địa bàn, phiên dịch trực tiếp, vận chuyển mẫu, visa và bảo hiểm cũng cần được đối chiếu rõ trước khi chốt; khoản đã bao gồm sẽ không cộng lại.
Không thể kết luận như vậy. Cần kiểm tra mã HS, biểu thuế, quy tắc xuất xứ, hồ sơ và những điều kiện áp dụng cho sản phẩm tại thời điểm nhập khẩu. Ưu đãi theo hiệp định và nghĩa vụ VAT là các vấn đề riêng; doanh nghiệp nên làm rõ trước khi chốt giá bán và kế hoạch dòng tiền. [2][3][14]
Ở bước đầu, doanh nghiệp chỉ cần cung cấp thông tin về sản phẩm, loại đối tác muốn tìm, thời gian dự kiến và người phụ trách liên hệ. Không cần tải hộ chiếu, căn cước, hồ sơ ngân hàng hoặc toàn bộ tài liệu thương mại mật lên biểu mẫu công khai. Những tài liệu cần thiết cho bước tiếp theo sẽ được thu theo quy trình phù hợp.
Có. Doanh nghiệp có thể chọn khoảng thời gian dự kiến hoặc ghi chưa xác định. Chọn thời lượng 7, 10 hoặc 14 ngày giúp đội tư vấn hiểu nhu cầu; ngày thực tế sẽ được đối chiếu lịch bay, thời gian chuẩn bị và xác nhận của đối tác. Việc chọn trên biểu mẫu chưa phải đặt vé hoặc xác nhận chương trình khởi hành.
Thông tin đăng ký được sử dụng để tiếp nhận và xử lý nhu cầu dịch vụ theo nội dung đồng ý. Doanh nghiệp có thể lựa chọn riêng việc nhận thông tin giới thiệu sau này. Những dữ liệu cần bảo mật không được đưa vào nội dung công khai; việc chia sẻ hồ sơ với đối tác được xác định theo phạm vi và mục đích phù hợp.
Nếu doanh nghiệp đã có sản phẩm chủ lực nhưng còn thiếu đối tác phù hợp, hãy cho CHODAT biết điều đang cần giải quyết. Đó có thể là tìm nhà nhập khẩu, đánh giá kênh phân phối, kiểm tra mức giá hoặc thiết kế một chuyến khảo sát đủ sâu trước khi đầu tư tiếp.
Chúng tôi cần biết nhóm sản phẩm, quy cách chính, năng lực cung ứng và đối tác anh/chị muốn gặp. Nếu có kế hoạch sang Nga, hãy chọn khung 7, 10 hoặc 14 ngày; nếu chưa rõ, có thể để đội tư vấn cùng xác định. Một vài thông tin đúng sẽ giúp cuộc trao đổi đầu tiên đi vào việc cụ thể.
Sau khi yêu cầu được tiếp nhận thành công, trang hiển thị mã yêu cầu để doanh nghiệp thuận tiện liên hệ. Đây là bước bắt đầu trao đổi và xây dựng phương án; lịch khảo sát, báo giá và điều kiện thực hiện sẽ được xác nhận tiếp theo.
Biên soạn tháng 10/2026. Dữ liệu thương mại được ghi rõ năm; ví dụ chi phí là giả định. Thuế, hồ sơ và điều kiện nhập cảnh phải đối chiếu theo sản phẩm, đại biểu và thời điểm thực hiện.
Một số cổng tra cứu cơ sở hoặc doanh nghiệp có giới hạn truy cập; các liên kết là đầu mối kiểm tra, không xác nhận tình trạng của một đối tác hoặc nhà máy cụ thể.
VIETNAM · RUSSIA
Gửi yêu cầu để làm rõ phạm vi; chưa phát sinh nghĩa vụ thanh toán.